Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2026
Ngôi nhà của nàng Juliet ở thành phố cổ Verona, vùng bắc nước Italia
Ngôi nhà của nàng Juliet ở thành phố cổ Verona, vùng bắc nước Italia
Nhà Juliet ở thành phố Vérone/Casa di Giulietta di Verona hiện là Nhà bảo tàng, được thành lập vào năm 1905, nằm trong một trang viên Lãnh chúa từ thế kỷ 12, được hoàn chỉnh với ban công huyền thoại đã được phục dựng. Ngôi nhà nằm tại TP cổ Verona, vùng Veneto, nước Ý. Nơi được cho rằng đã là bối cảnh để William Shakespeare viết tấn bi kịch Romeo và Juliet, ra mắt công chúng năm 1597. Ngôi nhà hiện nay được mở rộng, rất rộng, bao gồm ngôi nhà đã được chuyển thể thành nhà bảo tàng và khu nhà hát, rất hoành tráng, mỹ lệ.
Tổng quan:
Verona chính là thành phố mà Luigi da Porto (1485-1529), đã viết tác phẩm “Istoria novellamente ritrovata di due Nobili Amanti”/Tân chuyện về cặp tình nhân quý tộc, xuất bản năm 1530 và đây chính là bối cảnh cho câu chuyện tình hư cấu về Romeo và Juliet. Nhưng Masuccio Salernitano (1410-1475), trong tác phẩm Il Novelino (xuất bản năm 1476, sau khi ông qua đời), lại không đặc biệt nêu rõ Verona là nơi diễn ra câu chuyện này.
Phiên bản của Da Porto được Mathieu Bandello (1480 – 1561) tái sử dụng vào năm 1554 trong tác phẩm Novelle của ông, và sau đó được Arthur Brooke phổ thơ vào năm 1562. Bộ trường ca kể lại The Tragical History of Romeus and Juliet/Chuyện tình bi thảm của Romio và Juliet. Và chính trường ca này là nguồn cảm hứng để William Shakespeare viết lên bản tình ca sống mãi với thời gian, vở kịch Romeo và Juliet.
Câu chuyện khai thủy kể về mối tình bi thảm của một chàng trai và một cô gái thuộc hai dòng họ quý tộc đối địch: gia tộc Capuleti (Capulet) và Montecchi (Montague), ở Verona vào thế kỷ 13 và 14. Một ban công được phục dựng ở Nhà Juliet (Casa di Giulietta) đã trở thành một điểm thu hút khách du lịch, được dành cho những cặp tình nhân đến từ khắp nơi trên thế giới, họ đến đó và hôn nhau trên ban công, chụp ảnh với bức tượng đồng Juliet, đứng ở phía sâu trong sân, được nhà điêu khắc Nereo Costantini thực hiện để mơ về một tình yêu như mơ. Nhưng cũng còn có rất nhiều người đi một mình, hoặc đi theo nhóm, họ đến đó để lặng ngắm, tưởng niệm một tình yêu bất diệt… Ban công quay ra một sân nhỏ có lối vào từ Phố Cappello.
Bức tượng nàng Juliet được khá nhiều người tôn kính như một biểu tượng. Bởi theo một truyền thống dân gian hài hước hoặc một truyền thuyết mê tín, đàn ông đang yêu chạm vào ngực trái bức tượng sẽ mang lại may mắn có thể tìm được vợ, còn phụ nữ thì nên chạm vào ngực phải để có được hạnh phúc, tình yêu vĩnh cửu và khả năng sinh sản. Tòa nhà được bao phủ bởi những lời chúc tình yêu và những hình vẽ trên tường nhiều màu sắc do những người yêu nhau để lại. Có một khung cửa sổ tầng trệt treo đầy những chìa khóa màu đỏ hình trái tim.
Đôi dòng Lịch sử:
Vào thế kỷ 12, ngôi nhà phố này được gia đình quý tộc người Ý Dal Cappello xây dựng trên phố Cappello, rất gần Quảng trường delle Erbe ở trung tâm lịch sử của thành Verona, huy hiệu của dòng họ này còn được khắc trên phiến đá khóa trên vòm, phía trong sân.
Vào thế kỷ 16, William Shakespeare (1564-1616) đã cho ra đời vở Bi kịch Romeo và Juliet, lấy bối cảnh ở thành phố Verona. Vào thế kỷ 19, thành phố này trở thành thành phố lãng mạn nổi tiếng nhất thế giới, được mệnh danh là "thành phố của những cặp tình nhân ở Verona".
Vào thế kỷ 19, sự tương đồng về âm thanh giữa Dal Cappello và Capuleti đã khiến một số người tin rằng ngôi nhà này có thể là của Juliet Capulet, nơi nàng đã nghe người yêu Romeo Montague tán tỉnh và bày tỏ tình yêu của mình dưới chân ban công nhà nàng. Chính tại ngôi nhà này, đôi tình nhân đã thề nguyện tình yêu vĩnh cửu. Trong khi đó thì Shakespeare chưa từng đặt chân đến thành Verona, và vở kịch của ông hoàn toàn là hư cấu.
Năm 1905, ngôi nhà được chuyển thành bảo tàng, đã thu hút sự quan tâm đáng kể của khách du lịch. Trong những năm 1936 - 1940, nhà sử học Antonio Avena đã cho phục dựng hoàn toàn ngôi nhà theo phong cách như tranh vẽ và thêm ban công vào mặt tiền của sân trong. Cùng với thời gian Bảo tàng được trang bị thêm các hiện vật từ thế kỷ 16 và 17, những tranh vẽ và tranh khắc mô tả câu chuyện tình Romeo và Juliet, trang phục của thời kỳ đó trong bộ phim điện ảnh đầu tiên về Romeo và Juliet được Franco Zeffirelli thực hiện năm 1968, và đồ gốm thời Phục Hưng của thành phố Verona. Những cầu thang bằng sắt kiên cố. Cũng trong ngôi nhà, ta còn thấy được chiếc giường của Juliet, được sử dụng trong bộ phim.
Một lâu đài tư nhân trong một con hẻm yên tĩnh nằm bên ngoài trung tâm lịch sử của thành Verona, thuộc sở hữu của gia đình Montecchi, được cho là của Romeo Montague. Một ngôi mộ được cho là mộ gió của Juliet, làm bằng đá cẩm thạch đỏ, được quàn tại tu viện San Francesco in Corso từ thế kỷ 13, nơi có lẽ là địa điểm mà hai người yêu nhau đã kết thúc cuộc đời mình.
Hiệu Constant (Paris)
Một số bức ảnh khác
Hồn quê hương sống động trong tim mỗi người Việt xa xứ
Hồn quê hương sống động trong tim mỗi người Việt xa xứ
Báo Pháp Luật Việt Nam (Đăng ngày 19/04/2024 )
(PLVN) - Với những người Việt sống xa Tổ quốc, “sông dù lớn bao nhiêu cũng đổ về với biển, lá tươi tốt bao nhiêu khi già cũng rụng về cội rễ”; người Việt sống ở phương trời nào cũng đều hướng về cội nguồn, về với quê hương, Tổ quốc.
Dành nhiều thời gian đi dọc chiều dài đất nước
Sinh ra và lớn lên ở huyện Thường Tín (Hà Tây cũ, nay là TP Hà Nội), năm 1998, nhà văn Hiệu Constant (tên thật là Lê Thị Hiệu) sang Pháp định cư cùng gia đình. Tại Pháp, chị tiếp tục theo học tại Trường Đại học Sorbonne IV, ngành Văn học so sánh. Hiện nay, chị Hiệu là đại diện cho một số tập đoàn xuất bản Pháp tại Việt Nam và cũng là đại diện cho một số nhà văn Việt Nam tại Pháp. Ngoài việc là dịch giả của gần 80 đầu sách dịch Pháp - Việt, Việt - Pháp, chị đã xuất bản 5 tiểu thuyết, 1 tập truyện ngắn, 1 truyện ký và 1 tự truyện, qua đó góp phần tích cực nối nhịp cầu văn hóa giữa 2 nước.
Chị Hiệu cho biết, dù xa Việt Nam đã hơn 1/4 thế kỷ, nhưng Việt Nam không chỉ còn nguyên vẹn trong trái tim chị mà còn trở nên sâu đậm hơn. Dẫu yêu nước Pháp rất nhiều nhưng chị cũng rất nhớ Việt Nam. “Sống trong nỗi nhớ, mọi đường nét, hình thể, âm thanh… của bầu không khí quê nhà lại càng hiện ra rõ nét hơn trong tôi. Tôi tri ân Việt Nam nhưng cũng tri ân nước Pháp. Việt Nam là nguồn cội của tôi, là tổ tiên, cha mẹ, ông bà, là nơi đã cho tôi cuộc sống và những vốn tri thức đầu đời; còn nước Pháp đã cho tôi gia đình, sự nghiệp và tất cả những gì tôi đang có”, chị bộc bạch.
Tình yêu Việt Nam đã được chị truyền cho các con mình - những đứa trẻ là sự kết tinh của hai dòng máu Việt - Pháp. Các con của chị đều được mẹ dạy nói tiếng Việt và văn hóa Việt Nam thông qua những bài hát, những món ăn Việt. “Tết năm nào tôi cũng tự làm và dạy các con gói bánh chưng, làm nem. Các ngày rằm, ngày lễ tôi đều thực hiện một cách chăm chú. Tôi muốn các con thấy những hình ảnh Việt Nam đầu tiên qua chính mẹ chúng, đó là sự dịu dàng, kiên trì, cần mẫn, chịu khó và đầy yêu thương. Tôi tin rằng chính những điều như vậy sẽ khắc sâu và in đậm trong tâm trí chúng, dẫu sau này, việc tiếp cận thực tế với môi trường Việt Nam có thể sẽ ít nhiều khác với những điều mẹ dạy”, chị Hiệu chia sẻ.
Ngoài ra, cứ 2 năm một lần, chị đều cho các con về thăm quê ngoại, đưa chúng về không chỉ thành phố mà còn tới tận các vùng quê ở các tỉnh, thành ở Việt Nam, tiếp xúc trực tiếp với bà con nông dân hoặc các dân tộc thiểu số để thêm hiểu, thêm yêu quê hương Việt Nam. Dù còn nhỏ nhưng đến nay, các con của chị đã tới hầu hết các vùng trên lãnh thổ đất nước, từ các tỉnh, thành như Lào Cai, Hải Phòng ở miền Bắc đến Huế, Đà Nẵng ở miền Trung, miền Nam hay các tỉnh miền Tây sông nước.
Bản thân chị Hiệu cũng thường xuyên về Việt Nam. Mỗi lần về nước, chị dành nhiều thời gian đi dọc chiều dài đất nước. Mỗi nơi đi qua đều để lại trong chị những xúc động khó quên. Chị cho biết đã đến thăm Đền Hùng, Đền Đô, Đền Trần, Đền Vua Lê, thăm Thành Nhà Hồ; đi thăm Sơn La, Lai Châu, Mộc Châu, Điện Biên Phủ, Lạng Sơn; đi dọc quốc lộ 4 từ Cao Bằng đến Móng Cái để mục sở thị những chiến trường năm xưa, để hình dung được cảnh bi tráng trong quá khứ, hiểu thêm lịch sử nước nhà…
“Nước mắt nào cũng mặn, máu nào cũng đỏ”
Năm 2012, đáp ứng nguyện vọng của những người con xa quê, Nhà nước ta đã tạo điều kiện để đoàn kiều bào đầu tiên được đặt chân tới Trường Sa. Tính đến năm 2023, Bộ Ngoại giao đã phối hợp với Bộ Tư lệnh Hải quân và các đơn vị liên quan tổ chức được 10 đoàn với tổng số trên 500 lượt kiều bào tới thăm, tìm hiểu, động viên cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân huyện đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1.
Là kiều bào đã may mắn có mặt trên chuyến đi thăm Trường Sa vào năm 2018, chị Hiệu cho biết đây cũng là kỷ niệm ghi dấu ấn nhất với chị mỗi khi nhắc về quê hương. Cảm giác khi lần đầu tiên được tận mắt chứng kiến những hòn đảo chìm nhỏ nhoi lênh đênh trên mặt biển giữa trùng khơi bao la; niềm xúc động khi chứng kiến cuộc sống còn nhiều thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần của những cán bộ và chiến sĩ hải quân trên đảo đến nay vẫn vẹn nguyên như đang diễn ra trước mắt.
Trở về từ chuyến đi đầy cảm xúc đó, chị đã dành 3 năm để viết cuốn truyện ký “Kiều bào với Trường Sa”. “Tôi còn nhớ, khi từ Trường Sa về đến Hà Nội, rồi về đến Paris, tôi đã không trò chuyện với ai về chuyến đi ấy. Bởi, mỗi khi kể lại với ai đó, hoặc chỉ đơn giản là nghĩ lại chuyến đi, tâm hồn tôi lại xáo trộn, những hình ảnh đan xen nhau, những xúc động buồn vui lẫn lộn lại đổ về. Những ý tưởng cứ lơ lửng khiến tôi không sao nắm bắt được để kể, để đóng khung chúng vào các con chữ. Tôi đã đợi cho những cảm xúc ấy thực sự lắng xuống, để tôi có thể kể về chúng một cách mạch lạc, trôi chảy hơn”, nữ nhà văn cho hay.
Chị Hiệu Constant trong chuyến thăm Trường Sa năm 2018. (Ảnh: NVCC)
Cuốn truyện ký “Kiều bào với Trường Sa” được chị quyết tâm thực hiện để chia sẻ với bạn đọc những suy nghĩ của bản thân về vùng lãnh hải thiêng liêng của Việt Nam. Qua tác phẩm, chị cũng muốn để những đồng bào chưa được đến thăm Trường Sa có thể hình dung rõ nét về phần lãnh thổ máu thịt thiêng liêng không thể tách rời của đất nước, về vẻ đẹp kiêu hùng của các chiến sĩ Hải quân Việt Nam, về biển đảo bao la của Việt Nam, về những ngôi chùa - những cột mốc thiêng liêng hay những hộ gia đình, các cháu nhỏ và những lớp học trên đảo. “Không phải ngẫu nhiên mà tôi đặt tên cho cuốn sách là “Kiều bào với Trường Sa” và lời tựa cuốn sách là “Nước mắt ai cũng mặn, máu ai cũng đỏ, hãy cùng chung tay vì chủ quyền lãnh hải, vì một Việt Nam đoàn kết gắn bó và phát triển!”, tôi muốn nhắn nhủ đồng bào trong nước cũng như kiều bào trên thế giới rằng cho dù thế nào, mọi kiều bào đều hướng về Tổ quốc và Trường Sa là một trong những sợi dây gắn kết kiều bào với quê hương, xích kiều bào lại gần với nhau hơn”, chị Hiệu nói.
Nguồn lực quan trọng trong phát triển đất nước
Theo Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (NVNƠNN), cộng đồng NVNƠNN hiện có khoảng 6 triệu người, sinh sống và làm việc ở 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 80% là các nước phát triển. Thời gian qua, kiều bào tiếp tục có nhiều hoạt động hướng về quê hương, phát huy vai trò là nguồn lực quan trọng trong quá trình phát triển đất nước.
Những năm qua, kiều bào ở các nước cũng đã có nhiều hoạt động đóng góp cho công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước. Thống kê của Ủy ban Nhà nước về NVNƠNN cho thấy, từ năm 2012 đến năm 2022, cộng đồng NVNƠNN đã quyên góp ủng hộ đóng một số xuồng chủ quyền, xây dựng một số công trình trên đảo, mua quà tặng hiện vật và nhu yếu phẩm gửi tặng các điểm đảo, Nhà giàn DK1 với tổng số tiền ủng hộ lên tới khoảng 26,8 tỷ đồng. Bên cạnh những đóng góp về vật chất, bà con còn tích cực gửi gắm tình cảm thông qua việc sáng tác các tác phẩm thơ, văn, truyện ngắn, truyện ký, trong đó có cuốn truyện ký “Kiều bào với Trường Sa” của chị Hiệu Constant.
Bà con cũng thành lập các diễn đàn, câu lạc bộ Trường Sa - Hoàng Sa; tăng cường nghiên cứu các biện pháp, sáng chế mới để cải thiện đời sống của cán bộ, chiến sĩ trên đảo. Nhiều hội thảo, triển lãm cũng đã được tổ chức nhằm khẳng định tình yêu đất nước của kiều bào, góp phần tuyên truyền mạnh mẽ đến bà con các thế hệ ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế về chủ quyền biển đảo Việt Nam.
Những ngày cận kề Giỗ Tổ Hùng Vương năm nay, kiều bào ở một số nơi trên thế giới cũng đang háo hức trở về để tham dự Giỗ Tổ và tham gia đoàn công tác tới thăm, động viên cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân huyện đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1. Việc kết nối giữa hai sự kiện trở thành chuỗi hoạt động về nguồn hết sức ý nghĩa, gắn kết hơn nữa bà con kiều bào với quê hương, góp phần nâng cao niềm tự tôn, tự hào dân tộc; qua đó tạo nguồn sức mạnh to lớn để khẳng định các giá trị văn hóa, con người Việt Nam trên trường quốc tế.
“Sông dù lớn bao nhiêu cũng đổ về với biển, lá tươi tốt bao nhiêu khi già cũng rụng về cội rễ. Nước mắt nào cũng mặn, dòng máu nào cũng đỏ, người Việt mình cho dù sống ở bất kỳ phương trời nào, chính kiến ra sao, cuối cùng thì vẫn hướng về cội nguồn, về với quê hương, Tổ quốc của mình”, chị Lê Thị Hiệu chia sẻ.
“Tôi sẽ không bao giờ quên buổi tối tàu rời đảo Trường Sa, những câu như “Kiều bào yêu Trường Sa” và giọng các chiến sĩ từ dưới vọng lên đáp lại “Trường Sa yêu kiều bào” cứ âm vang mãi, rồi cả những giọt nước mắt lăn dài trên những khuôn mặt đang cười. Con tàu đã rời đi nhưng những cánh tay cứ vẫy mãi không thôi, cho đến tận khi cả hòn đảo mất hút trong đêm. Tôi cũng không bao giờ quên Lễ Giỗ Tổ được tổ chức ngay trên con tàu KN491 đó. Những đứa con Việt trở về từ khắp năm châu, bốn biển cùng dự Lễ Giỗ Tổ, thật xúc động ngập tràn!”, chị Hiệu bồi hồi.
Hà Dung
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
































