Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2026

Ngôi nhà của nàng Juliet ở thành phố cổ Verona, vùng bắc nước Italia

Ngôi nhà của nàng Juliet ở thành phố cổ Verona, vùng bắc nước Italia
Nhà Juliet ở thành phố Vérone/Casa di Giulietta di Verona hiện là Nhà bảo tàng, được thành lập vào năm 1905, nằm trong một trang viên Lãnh chúa từ thế kỷ 12, được hoàn chỉnh với ban công huyền thoại đã được phục dựng. Ngôi nhà nằm tại TP cổ Verona, vùng Veneto, nước Ý. Nơi được cho rằng đã là bối cảnh để William Shakespeare viết tấn bi kịch Romeo và Juliet, ra mắt công chúng năm 1597. Ngôi nhà hiện nay được mở rộng, rất rộng, bao gồm ngôi nhà đã được chuyển thể thành nhà bảo tàng và khu nhà hát, rất hoành tráng, mỹ lệ.
Tổng quan: Verona chính là thành phố mà Luigi da Porto (1485-1529), đã viết tác phẩm “Istoria novellamente ritrovata di due Nobili Amanti”/Tân chuyện về cặp tình nhân quý tộc, xuất bản năm 1530 và đây chính là bối cảnh cho câu chuyện tình hư cấu về Romeo và Juliet. Nhưng Masuccio Salernitano (1410-1475), trong tác phẩm Il Novelino (xuất bản năm 1476, sau khi ông qua đời), lại không đặc biệt nêu rõ Verona là nơi diễn ra câu chuyện này. Phiên bản của Da Porto được Mathieu Bandello (1480 – 1561) tái sử dụng vào năm 1554 trong tác phẩm Novelle của ông, và sau đó được Arthur Brooke phổ thơ vào năm 1562. Bộ trường ca kể lại The Tragical History of Romeus and Juliet/Chuyện tình bi thảm của Romio và Juliet. Và chính trường ca này là nguồn cảm hứng để William Shakespeare viết lên bản tình ca sống mãi với thời gian, vở kịch Romeo và Juliet. Câu chuyện khai thủy kể về mối tình bi thảm của một chàng trai và một cô gái thuộc hai dòng họ quý tộc đối địch: gia tộc Capuleti (Capulet) và Montecchi (Montague), ở Verona vào thế kỷ 13 và 14. Một ban công được phục dựng ở Nhà Juliet (Casa di Giulietta) đã trở thành một điểm thu hút khách du lịch, được dành cho những cặp tình nhân đến từ khắp nơi trên thế giới, họ đến đó và hôn nhau trên ban công, chụp ảnh với bức tượng đồng Juliet, đứng ở phía sâu trong sân, được nhà điêu khắc Nereo Costantini thực hiện để mơ về một tình yêu như mơ. Nhưng cũng còn có rất nhiều người đi một mình, hoặc đi theo nhóm, họ đến đó để lặng ngắm, tưởng niệm một tình yêu bất diệt… Ban công quay ra một sân nhỏ có lối vào từ Phố Cappello.
Bức tượng nàng Juliet được khá nhiều người tôn kính như một biểu tượng. Bởi theo một truyền thống dân gian hài hước hoặc một truyền thuyết mê tín, đàn ông đang yêu chạm vào ngực trái bức tượng sẽ mang lại may mắn có thể tìm được vợ, còn phụ nữ thì nên chạm vào ngực phải để có được hạnh phúc, tình yêu vĩnh cửu và khả năng sinh sản. Tòa nhà được bao phủ bởi những lời chúc tình yêu và những hình vẽ trên tường nhiều màu sắc do những người yêu nhau để lại. Có một khung cửa sổ tầng trệt treo đầy những chìa khóa màu đỏ hình trái tim. Đôi dòng Lịch sử: Vào thế kỷ 12, ngôi nhà phố này được gia đình quý tộc người Ý Dal Cappello xây dựng trên phố Cappello, rất gần Quảng trường delle Erbe ở trung tâm lịch sử của thành Verona, huy hiệu của dòng họ này còn được khắc trên phiến đá khóa trên vòm, phía trong sân. Vào thế kỷ 16, William Shakespeare (1564-1616) đã cho ra đời vở Bi kịch Romeo và Juliet, lấy bối cảnh ở thành phố Verona. Vào thế kỷ 19, thành phố này trở thành thành phố lãng mạn nổi tiếng nhất thế giới, được mệnh danh là "thành phố của những cặp tình nhân ở Verona". Vào thế kỷ 19, sự tương đồng về âm thanh giữa Dal Cappello và Capuleti đã khiến một số người tin rằng ngôi nhà này có thể là của Juliet Capulet, nơi nàng đã nghe người yêu Romeo Montague tán tỉnh và bày tỏ tình yêu của mình dưới chân ban công nhà nàng. Chính tại ngôi nhà này, đôi tình nhân đã thề nguyện tình yêu vĩnh cửu. Trong khi đó thì Shakespeare chưa từng đặt chân đến thành Verona, và vở kịch của ông hoàn toàn là hư cấu. Năm 1905, ngôi nhà được chuyển thành bảo tàng, đã thu hút sự quan tâm đáng kể của khách du lịch. Trong những năm 1936 - 1940, nhà sử học Antonio Avena đã cho phục dựng hoàn toàn ngôi nhà theo phong cách như tranh vẽ và thêm ban công vào mặt tiền của sân trong. Cùng với thời gian Bảo tàng được trang bị thêm các hiện vật từ thế kỷ 16 và 17, những tranh vẽ và tranh khắc mô tả câu chuyện tình Romeo và Juliet, trang phục của thời kỳ đó trong bộ phim điện ảnh đầu tiên về Romeo và Juliet được Franco Zeffirelli thực hiện năm 1968, và đồ gốm thời Phục Hưng của thành phố Verona. Những cầu thang bằng sắt kiên cố. Cũng trong ngôi nhà, ta còn thấy được chiếc giường của Juliet, được sử dụng trong bộ phim.
Một lâu đài tư nhân trong một con hẻm yên tĩnh nằm bên ngoài trung tâm lịch sử của thành Verona, thuộc sở hữu của gia đình Montecchi, được cho là của Romeo Montague. Một ngôi mộ được cho là mộ gió của Juliet, làm bằng đá cẩm thạch đỏ, được quàn tại tu viện San Francesco in Corso từ thế kỷ 13, nơi có lẽ là địa điểm mà hai người yêu nhau đã kết thúc cuộc đời mình. Hiệu Constant (Paris) Một số bức ảnh khác

Hồn quê hương sống động trong tim mỗi người Việt xa xứ

Hồn quê hương sống động trong tim mỗi người Việt xa xứ
Báo Pháp Luật Việt Nam (Đăng ngày 19/04/2024 ) (PLVN) - Với những người Việt sống xa Tổ quốc, “sông dù lớn bao nhiêu cũng đổ về với biển, lá tươi tốt bao nhiêu khi già cũng rụng về cội rễ”; người Việt sống ở phương trời nào cũng đều hướng về cội nguồn, về với quê hương, Tổ quốc. Dành nhiều thời gian đi dọc chiều dài đất nước
Sinh ra và lớn lên ở huyện Thường Tín (Hà Tây cũ, nay là TP Hà Nội), năm 1998, nhà văn Hiệu Constant (tên thật là Lê Thị Hiệu) sang Pháp định cư cùng gia đình. Tại Pháp, chị tiếp tục theo học tại Trường Đại học Sorbonne IV, ngành Văn học so sánh. Hiện nay, chị Hiệu là đại diện cho một số tập đoàn xuất bản Pháp tại Việt Nam và cũng là đại diện cho một số nhà văn Việt Nam tại Pháp. Ngoài việc là dịch giả của gần 80 đầu sách dịch Pháp - Việt, Việt - Pháp, chị đã xuất bản 5 tiểu thuyết, 1 tập truyện ngắn, 1 truyện ký và 1 tự truyện, qua đó góp phần tích cực nối nhịp cầu văn hóa giữa 2 nước. Chị Hiệu cho biết, dù xa Việt Nam đã hơn 1/4 thế kỷ, nhưng Việt Nam không chỉ còn nguyên vẹn trong trái tim chị mà còn trở nên sâu đậm hơn. Dẫu yêu nước Pháp rất nhiều nhưng chị cũng rất nhớ Việt Nam. “Sống trong nỗi nhớ, mọi đường nét, hình thể, âm thanh… của bầu không khí quê nhà lại càng hiện ra rõ nét hơn trong tôi. Tôi tri ân Việt Nam nhưng cũng tri ân nước Pháp. Việt Nam là nguồn cội của tôi, là tổ tiên, cha mẹ, ông bà, là nơi đã cho tôi cuộc sống và những vốn tri thức đầu đời; còn nước Pháp đã cho tôi gia đình, sự nghiệp và tất cả những gì tôi đang có”, chị bộc bạch. Tình yêu Việt Nam đã được chị truyền cho các con mình - những đứa trẻ là sự kết tinh của hai dòng máu Việt - Pháp. Các con của chị đều được mẹ dạy nói tiếng Việt và văn hóa Việt Nam thông qua những bài hát, những món ăn Việt. “Tết năm nào tôi cũng tự làm và dạy các con gói bánh chưng, làm nem. Các ngày rằm, ngày lễ tôi đều thực hiện một cách chăm chú. Tôi muốn các con thấy những hình ảnh Việt Nam đầu tiên qua chính mẹ chúng, đó là sự dịu dàng, kiên trì, cần mẫn, chịu khó và đầy yêu thương. Tôi tin rằng chính những điều như vậy sẽ khắc sâu và in đậm trong tâm trí chúng, dẫu sau này, việc tiếp cận thực tế với môi trường Việt Nam có thể sẽ ít nhiều khác với những điều mẹ dạy”, chị Hiệu chia sẻ. Ngoài ra, cứ 2 năm một lần, chị đều cho các con về thăm quê ngoại, đưa chúng về không chỉ thành phố mà còn tới tận các vùng quê ở các tỉnh, thành ở Việt Nam, tiếp xúc trực tiếp với bà con nông dân hoặc các dân tộc thiểu số để thêm hiểu, thêm yêu quê hương Việt Nam. Dù còn nhỏ nhưng đến nay, các con của chị đã tới hầu hết các vùng trên lãnh thổ đất nước, từ các tỉnh, thành như Lào Cai, Hải Phòng ở miền Bắc đến Huế, Đà Nẵng ở miền Trung, miền Nam hay các tỉnh miền Tây sông nước. Bản thân chị Hiệu cũng thường xuyên về Việt Nam. Mỗi lần về nước, chị dành nhiều thời gian đi dọc chiều dài đất nước. Mỗi nơi đi qua đều để lại trong chị những xúc động khó quên. Chị cho biết đã đến thăm Đền Hùng, Đền Đô, Đền Trần, Đền Vua Lê, thăm Thành Nhà Hồ; đi thăm Sơn La, Lai Châu, Mộc Châu, Điện Biên Phủ, Lạng Sơn; đi dọc quốc lộ 4 từ Cao Bằng đến Móng Cái để mục sở thị những chiến trường năm xưa, để hình dung được cảnh bi tráng trong quá khứ, hiểu thêm lịch sử nước nhà… “Nước mắt nào cũng mặn, máu nào cũng đỏ” Năm 2012, đáp ứng nguyện vọng của những người con xa quê, Nhà nước ta đã tạo điều kiện để đoàn kiều bào đầu tiên được đặt chân tới Trường Sa. Tính đến năm 2023, Bộ Ngoại giao đã phối hợp với Bộ Tư lệnh Hải quân và các đơn vị liên quan tổ chức được 10 đoàn với tổng số trên 500 lượt kiều bào tới thăm, tìm hiểu, động viên cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân huyện đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1. Là kiều bào đã may mắn có mặt trên chuyến đi thăm Trường Sa vào năm 2018, chị Hiệu cho biết đây cũng là kỷ niệm ghi dấu ấn nhất với chị mỗi khi nhắc về quê hương. Cảm giác khi lần đầu tiên được tận mắt chứng kiến những hòn đảo chìm nhỏ nhoi lênh đênh trên mặt biển giữa trùng khơi bao la; niềm xúc động khi chứng kiến cuộc sống còn nhiều thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần của những cán bộ và chiến sĩ hải quân trên đảo đến nay vẫn vẹn nguyên như đang diễn ra trước mắt. Trở về từ chuyến đi đầy cảm xúc đó, chị đã dành 3 năm để viết cuốn truyện ký “Kiều bào với Trường Sa”. “Tôi còn nhớ, khi từ Trường Sa về đến Hà Nội, rồi về đến Paris, tôi đã không trò chuyện với ai về chuyến đi ấy. Bởi, mỗi khi kể lại với ai đó, hoặc chỉ đơn giản là nghĩ lại chuyến đi, tâm hồn tôi lại xáo trộn, những hình ảnh đan xen nhau, những xúc động buồn vui lẫn lộn lại đổ về. Những ý tưởng cứ lơ lửng khiến tôi không sao nắm bắt được để kể, để đóng khung chúng vào các con chữ. Tôi đã đợi cho những cảm xúc ấy thực sự lắng xuống, để tôi có thể kể về chúng một cách mạch lạc, trôi chảy hơn”, nữ nhà văn cho hay.
Chị Hiệu Constant trong chuyến thăm Trường Sa năm 2018. (Ảnh: NVCC) Cuốn truyện ký “Kiều bào với Trường Sa” được chị quyết tâm thực hiện để chia sẻ với bạn đọc những suy nghĩ của bản thân về vùng lãnh hải thiêng liêng của Việt Nam. Qua tác phẩm, chị cũng muốn để những đồng bào chưa được đến thăm Trường Sa có thể hình dung rõ nét về phần lãnh thổ máu thịt thiêng liêng không thể tách rời của đất nước, về vẻ đẹp kiêu hùng của các chiến sĩ Hải quân Việt Nam, về biển đảo bao la của Việt Nam, về những ngôi chùa - những cột mốc thiêng liêng hay những hộ gia đình, các cháu nhỏ và những lớp học trên đảo. “Không phải ngẫu nhiên mà tôi đặt tên cho cuốn sách là “Kiều bào với Trường Sa” và lời tựa cuốn sách là “Nước mắt ai cũng mặn, máu ai cũng đỏ, hãy cùng chung tay vì chủ quyền lãnh hải, vì một Việt Nam đoàn kết gắn bó và phát triển!”, tôi muốn nhắn nhủ đồng bào trong nước cũng như kiều bào trên thế giới rằng cho dù thế nào, mọi kiều bào đều hướng về Tổ quốc và Trường Sa là một trong những sợi dây gắn kết kiều bào với quê hương, xích kiều bào lại gần với nhau hơn”, chị Hiệu nói. Nguồn lực quan trọng trong phát triển đất nước Theo Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (NVNƠNN), cộng đồng NVNƠNN hiện có khoảng 6 triệu người, sinh sống và làm việc ở 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 80% là các nước phát triển. Thời gian qua, kiều bào tiếp tục có nhiều hoạt động hướng về quê hương, phát huy vai trò là nguồn lực quan trọng trong quá trình phát triển đất nước. Những năm qua, kiều bào ở các nước cũng đã có nhiều hoạt động đóng góp cho công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước. Thống kê của Ủy ban Nhà nước về NVNƠNN cho thấy, từ năm 2012 đến năm 2022, cộng đồng NVNƠNN đã quyên góp ủng hộ đóng một số xuồng chủ quyền, xây dựng một số công trình trên đảo, mua quà tặng hiện vật và nhu yếu phẩm gửi tặng các điểm đảo, Nhà giàn DK1 với tổng số tiền ủng hộ lên tới khoảng 26,8 tỷ đồng. Bên cạnh những đóng góp về vật chất, bà con còn tích cực gửi gắm tình cảm thông qua việc sáng tác các tác phẩm thơ, văn, truyện ngắn, truyện ký, trong đó có cuốn truyện ký “Kiều bào với Trường Sa” của chị Hiệu Constant. Bà con cũng thành lập các diễn đàn, câu lạc bộ Trường Sa - Hoàng Sa; tăng cường nghiên cứu các biện pháp, sáng chế mới để cải thiện đời sống của cán bộ, chiến sĩ trên đảo. Nhiều hội thảo, triển lãm cũng đã được tổ chức nhằm khẳng định tình yêu đất nước của kiều bào, góp phần tuyên truyền mạnh mẽ đến bà con các thế hệ ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế về chủ quyền biển đảo Việt Nam.
Những ngày cận kề Giỗ Tổ Hùng Vương năm nay, kiều bào ở một số nơi trên thế giới cũng đang háo hức trở về để tham dự Giỗ Tổ và tham gia đoàn công tác tới thăm, động viên cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân huyện đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1. Việc kết nối giữa hai sự kiện trở thành chuỗi hoạt động về nguồn hết sức ý nghĩa, gắn kết hơn nữa bà con kiều bào với quê hương, góp phần nâng cao niềm tự tôn, tự hào dân tộc; qua đó tạo nguồn sức mạnh to lớn để khẳng định các giá trị văn hóa, con người Việt Nam trên trường quốc tế. “Sông dù lớn bao nhiêu cũng đổ về với biển, lá tươi tốt bao nhiêu khi già cũng rụng về cội rễ. Nước mắt nào cũng mặn, dòng máu nào cũng đỏ, người Việt mình cho dù sống ở bất kỳ phương trời nào, chính kiến ra sao, cuối cùng thì vẫn hướng về cội nguồn, về với quê hương, Tổ quốc của mình”, chị Lê Thị Hiệu chia sẻ. “Tôi sẽ không bao giờ quên buổi tối tàu rời đảo Trường Sa, những câu như “Kiều bào yêu Trường Sa” và giọng các chiến sĩ từ dưới vọng lên đáp lại “Trường Sa yêu kiều bào” cứ âm vang mãi, rồi cả những giọt nước mắt lăn dài trên những khuôn mặt đang cười. Con tàu đã rời đi nhưng những cánh tay cứ vẫy mãi không thôi, cho đến tận khi cả hòn đảo mất hút trong đêm. Tôi cũng không bao giờ quên Lễ Giỗ Tổ được tổ chức ngay trên con tàu KN491 đó. Những đứa con Việt trở về từ khắp năm châu, bốn biển cùng dự Lễ Giỗ Tổ, thật xúc động ngập tràn!”, chị Hiệu bồi hồi. Hà Dung

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2026

Chung dòng máu Lạc Hồng: Nữ nhà văn kể chuyện quê hương

Báo Thanh Niên Gần 30 năm sang Pháp sinh sống, đến nay chị Lê Thị Hiệu chọn cách giữ 'lửa' quê hương từ những trang sách bằng tiếng Việt và những chuyến trở về. Câu chuyện đời chị là hành trình của một người Việt xa xứ nhưng không bao giờ quên ký ức đất mẹ. TỪ QUÊ NHÀ HÀ NỘI ĐẾN PARIS THƠ MỘNG Sinh ra giữa vùng đồng bằng sông Hồng, chị Hiệu lớn lên trong một tuổi thơ nghèo khó nhưng ấm áp. Làng quê ngoại ô phía nam Hà Nội khi ấy còn thuộc Hà Tây cũ không điện, dùng nước giếng, cuộc sống bám ruộng đồng, nhưng chính từ nơi đó đã nuôi dưỡng trong chị một tâm hồn mơ mộng và tình yêu với tri thức.
Gia đình chị Hiệu đón Tết Nguyên đán tại Pháp ẢNH: NVCC Là con thứ bảy trong gia đình, chị Hiệu sớm hiểu rằng "người nhà quê" muốn đi xa chỉ có con đường học giỏi. Những buổi ra đồng hái rau cho lợn, ngước nhìn những đám mây, đàn chim giữa trời, chị lại thấy lòng mình thôi thúc cần phải vượt khỏi lũy tre làng, cần phải học để đi xa. Lên THCS, trong khi nhiều bạn bè nghỉ học để phụ giúp gia đình, chị cố gắng học thật giỏi và kiên định theo đuổi con đường ấy. Năm thứ hai thi lại đại học, chị trở thành một trong số ít học sinh của trường đậu ngành tiếng Pháp, khoa Ngoại ngữ của ĐH Tổng hợp Hà Nội. Cũng từ đó, chị biết mình đã bước được một nửa vào giấc mơ thuở nhỏ. Tuổi thơ của chị Hiệu đầy mơ mộng và tình yêu văn chương. Chị biết đọc từ rất sớm và rất mê đọc. Chị đọc tất cả những gì rơi vào tay mình, từ các tờ báo cũ, những cuốn truyện nhăn góc rách trang đầu trang cuối. Ngoài tác phẩm văn học VN, chị làm quen với văn học thế giới qua những bản dịch. Ngày đó, chị chưa biết nước Pháp nằm ở đâu trên bản đồ châu Âu, nhưng lại biết khá rõ các vùng quê của nước này qua những tác phẩm của những tên tuổi lừng lẫy người Pháp. Khi thi đậu đại học ngành tiếng Pháp, chị càng nỗ lực để có thể đọc được các tác phẩm quen thuộc bằng bản ngữ. "Thêm nữa, tôi đẩy ước mơ của mình đi xa hơn. Tôi ước một lần trong đời được đến Paris, thăm nước Pháp mà tôi đã làm quen trong các tác phẩm văn học từ thuở thiếu thời", chị Hiệu kể về năm tháng tuổi thơ. Ra trường, chị được nhận vào cơ quan thuộc Bộ Khoa học - Môi trường thời đó và thi thoảng được phân công tham gia những chương trình hợp tác với các tổ chức của Pháp. Một ngày đẹp trời năm 1994, chị gặp anh Claude Constant trong lần vô tình phiên dịch giúp anh tại một cửa hàng bán đồ lưu niệm trên phố Hàng Gai. Sau đó, anh Claude ngỏ ý muốn làm quen với cô gái Hà Nội xinh xắn giỏi tiếng Pháp. Trong những lần trò chuyện, cả hai thấy đồng điệu từ công việc tới cuộc sống. "Và thế là anh đã "cảm" tôi ngay từ lần ấy. Rồi cũng phải chục lần anh qua lại Paris - Hà Nội. 4 năm sau, chúng tôi kết hôn. Đến tháng 9.1998, tôi sang Pháp làm dâu", chị chia sẻ. Những tháng ngày đầu ở Pháp, chị rất khó hòa nhập với môi trường mới do mọi thứ trên thực tế khác xa những gì đã hình dung qua những cuốn tiểu thuyết. Dần dà, chị mở lòng và xem đất nước mới này là quê hương thứ hai của mình. Với chị, để được dân bản xứ tôn trọng, ngoài việc hòa mình vào cuộc sống ở Pháp, còn cần dũng cảm vững vàng gìn giữ bản sắc dân tộc của chính mình. "Mình không chỉ học được những điều hay của nước họ mà đồng thời còn lan tỏa hình ảnh văn hóa của quê hương mình đến với họ. Đây chính là điều khác biệt của những kiều bào thành công trên đất khách", chị Hiệu bày tỏ. Đến tận bây giờ, sau khi đã sống gần 3 thập niên ở Pháp, chị vẫn luôn hướng về quê hương VN. Khi các con còn nhỏ, nỗi nhớ quê được gửi vào câu hát ru bằng tiếng mẹ đẻ hay những buổi dạy con nói tiếng Việt và làm những món ăn quê hương. Chị luôn kể cho các con nghe những giai thoại về tổ tiên. Cứ 2 năm, chị đưa các con về thăm quê một lần, đi khắp các vùng đất ở VN. Đến nay, các con của chị đã biết gần hết lãnh thổ VN. Đó là niềm tự hào với một người con xa xứ như chị. KỂ CHUYỆN QUÊ HƯƠNG QUA TRANG SÁCH Ở Pháp, chị làm một số công việc liên quan đến viết, dịch, giới thiệu các tác phẩm sách Pháp đến độc giả VN và ngược lại. Trong những dịp được mời dự giới thiệu sách tại Pháp, chị cố gắng giới thiệu tác phẩm văn học Việt và nhà văn VN đến độc giả Pháp.
Nữ nhà văn luôn giới thiệu những trang sách viết về quê hương cho cộng đồng ở Pháp ẢNH: NVCC Ngoài ra, chị còn cộng tác tích cực với nhiều tờ báo và đài truyền hình của quê hương. "Tôi thực hiện các phóng sự truyền hình về các sự kiện văn hóa của kiều bào Việt tại Pháp, hoặc các sự kiện liên quan đến quan hệ ngoại giao của hai nước. Tôi cũng đã tham gia thực hiện một số bộ phim tài liệu với các nhà làm phim trong nước, như phim Vòng vây lửa, phim Lực lượng Công an nhân dân trong Khúc tráng ca Điện Biên Phủ…", chị cho biết. Bên cạnh đó, chị luôn cổ vũ, ủng hộ mỗi khi một hội đoàn mở lớp dạy tiếng Việt tại Pháp. Chị dành tặng tất cả sách tiếng Việt, những tác phẩm mà chị từng dạy cho chính các con mình. Cũng từ đó, chị đi viết, đi quay về các buổi khai trường và bế giảng lớp học. Chị kể lại hành trình của mình cho học sinh kiều bào, giáo viên, chia sẻ kinh nghiệm dạy con nói tiếng Việt. Trong vai trò dịch giả và nhà văn, chị luôn có những tác phẩm giúp kiều bào hiểu hơn về quê hương, gìn giữ ngôn ngữ nguồn cội. Trong các tự truyện và ký như: Làm dâu nước Pháp hay Kiều bào với Trường Sa…, chị đều thổi tình yêu quê hương vào từng con chữ. "Tôi nghĩ đã có thể làm được những điều ấy vì tôi rất thương nhớ bố mẹ tôi, yêu quê hương VN của mình, yêu nước Pháp, yêu tiếng Việt, yêu tiếng Pháp", chị nói trong xúc động. NHỮNG DÒNG CHỮ VỀ TRƯỜNG SA THÂN YÊU Từ thời còn là nữ sinh, chị Hiệu đã mơ về Trường Sa. Thời gian trôi, những suy nghĩ, tư duy về vùng biển đảo máu thịt của Tổ quốc càng trở nên cụ thể, đau đáu và tha thiết. "Tôi muốn được tận mắt chứng kiến sự anh dũng của lực lượng Hải quân VN. Tôi muốn được bắt tay để nói lời tri ân đến các cán bộ chiến sĩ hải quân đang ngày đêm kiên cường canh giữ biển đảo của Tổ quốc. Tôi cũng muốn thăm hỏi các ngư dân đã rời quê đến sinh sống tại đó, và còn có các thầy giáo, các trụ trì chùa và tiếng chuông chùa ngân vang hằng ngày trên những con sóng mênh mông như một lời tuyên bố chủ quyền, một cột mốc chủ quyền tâm linh giữa trùng khơi bao la", nữ nhà văn chia sẻ.
Chị Lê Thị Hiệu và những chuyến thăm Trường Sa thân yêu ẢNH: NVCC Thế là những bước chân đến Trường Sa của chị cứ thế được nối tiếp trong nhiều năm. Chị Hiệu bày tỏ mọi thứ trên mỗi hòn đảo đều khiến chị xúc động. Tại đảo Đá Nam, chị chứng kiến một hình ảnh không thể nào quên. Trong khi mọi người đang giao lưu trong hội trường thì một nữ ca sĩ của Nhà hát ca múa nhạc Quân đội đến bên một tiêu binh trẻ đang đứng gác cạnh cột mốc chủ quyền và hát. "Tôi thấy đôi hàng nước mắt chảy dài trên má cậu ấy, nữ ca sĩ vừa hát vừa lấy khăn lau cho cậu. Chiến sĩ trẻ có đôi giây như giật mình nhưng rồi lấy lại tư thế vững vàng ngay. Tất cả chỉ diễn ra trong chừng 30 giây, song các kiều bào đều nhìn thấy. Cảnh ấy khiến tôi thực sự xúc động. Với thái độ như vậy, tôi tin tưởng vào sự vững tâm, ý chí kiên cường của các chiến sĩ. Điều ấy càng khiến tôi ngưỡng mộ và luôn tri ân họ", chị Hiệu kể lại. Qua từng ấy thời gian và nghiệm lại cuộc sống, sự nghiệp của mình ở Pháp, nữ nhà văn nhìn nhận bản thân là người đắm đuối với ngôn ngữ, con chữ, thiết tha với quê hương. Chính tình yêu đó là đòn bẩy, truyền cảm hứng để chị sắp xếp những con chữ thành văn trên giấy. "Không có quê hương hẳn tôi sẽ khó sống tốt và an nhiên trên đất Pháp. Không có các con chữ, sẽ chẳng biết làm gì, bởi ngoài viết ra, tôi làm gì cũng rất tệ", chị Hiệu nói đầy cảm xúc. Tin liên quan

Thứ Năm, 19 tháng 2, 2026

Một thoáng Hà Lan

Một thoáng Hà Lan Bài đăng trên báo ANTG https://antgct.cand.com.vn/Nguoi-trong-cuoc/ha-lan-moi-chi-dam-ngay-i796197/
Thành phố Rotterdam đón chúng tôi bằng cơn mưa cuối mùa. Nước xối xả trút xuống rồi lại tạnh khá nhanh, đủ để khách phương xa ghé vào một quán cà phê thưởng thức bữa điểm tâm sáng sau một chặng đường dài từ Paris. Người Rotterdam nồng hậu và mến khách. Rotterdam nằm ở phía tây nam Hà Lan, gần thành phố Den Haag. Vùng đất này có một lịch sử thăng trầm qua nhiều biến loạn. Vào đầu thế kỷ XIV chỉ là một làng chài đơn sơ nhưng giờ đây Rotterdam đã là một trong những hải cảng lớn nhất thế giới. Cảng Rotterdam chiếm khoảng 40% lưu lượng hàng hóa của châu Âu, do vậy nơi đây không chỉ là trung tâm ngoại thương chính của Hà Lan mà còn là trung tâm thương mại và giao thông quan trọng trong khu vực. Đi dạo thành phố, ta sẽ gặp những tòa nhà có kiến trúc khác lạ, hiện đại và nguy nga, xứng danh là nơi có ngành du lịch đô thị phát triển. Rotterdam tự hào sở hữu thế mạnh về kiến trúc. Bởi sau chiến tranh các nhà lãnh đạo đã quyết định không tái thiết nguyên trạng các khu đã bị tàn phá, thay vào đó là đề nghị các kiến trúc sư thiết kế một thành phố mới. Thành phố có rất nhiều tòa nhà chọc trời, các nhà bảo tàng, các tác phẩm điêu khắc trải khắp thành phố. Nhưng đâu đó vẫn còn một số làng chài truyền thống với sự cổ kính an bình. Diện tích không lớn, nhưng phân nửa dân số là nhập cư, đến từ trên một trăm quốc gia và lãnh thổ khác nhau nên Rotterdam nổi tiếng là thành phố đa văn hóa và được công nhận là Thủ đô văn hóa Châu Âu năm 2001. Có lẽ vì thế mà Rotterdam rất độc đáo, tràn ngập bầu không khí năng động và sáng tạo. Từ Rotterdam đến Amsterdam, chúng ta sẽ đi qua Den Haag, thành phố có nhiều trụ sở quan trọng của Hà Lan, trong đó có Tòa án Hình sự Quốc tế. Tôi thực sự xúc động được mục sở thị một tòa nhà bề thế và hiện đại. So với nhiều Tổ chức quốc tế khác thì Tòa án Hình sự Quốc tế còn khá non trẻ nhưng là Tòa án Quốc tế thường trực đầu tiên và duy nhất có quyền truy tố, xét xử cá nhân phạm tội diệt chủng, tội ác chống lại loài người, tội ác chiến tranh và tội ác xâm lược. Tòa án Hình sự Quốc tế được thành lập vào năm 2002 thông qua Hiệp ước Roma, và được coi là một bước tiến, sự đổi mới lớn trong luật Quốc tế và nhân quyền.
Nếu Rotterdam sở hữu nhiều tòa nhà chọc trời thì thủ đô Amsterdam lại ít hơn! Những tòa nhà nơi đây mang kiến trúc duyên dáng và điệu đàng, khá cổ điển. Khu cảng Amsterdam lúc nào cũng nhộn nhịp. Từ Quảng trường Nhà ga trung tâm, ta dễ dàng mua vé tàu thủy đi dạo trên những con kênh xinh xắn, được gọi là tiểu Venice. Đẹp như tranh ! Trên đường tàu điện kêu leng keng. Rất nhiều tàu điện và mỗi tàu lại được trang trí rất bắt mắt. Amsterdam không nhiều xe hơi và không hổ danh là thành phố xe đạp ! Nối đôi bờ con sông lớn là những chuyến phà miễn phí, 5 phút một chuyến và lần nào cũng đông khách. Bên này là thành phố chính, nhà cửa đông đúc, nhưng sang phía bên kia đã là một thế giới khác. Những ngôi nhà cổ kính hơn, vườn rộng đơn sơ, cầu gỗ vượt qua những kênh nhỏ. Tại đó có một số nhà bảo tàng hiện đại và tháp A'dam Lookout. Chỉ cần bỏ 18,5 Euros, chúng ta sẽ được chứng kiến những điều hết sức thú vị. Thang máy chạy rất nhanh với hiệu ứng âm thanh, ánh sáng sẽ đưa khách lên tầng 20 để ngắm nhìn toàn cảnh thành phố. Trên sân thượng còn có trò đu dây, một cảm giác lửng lơ trên không, cao hơn mặt đất cả 100 mét. Amsterdam về đêm vô cùng nhộn nhịp. Trên bến dưới thuyền. Ánh điện từ các cửa hiệu sang trọng hắt xuống các dòng kênh, các con thuyền từ từ lướt đi, khung cảnh hết sức huyền ảo. Các nhà hàng và quán cà phê chật cứng. Khu « Phố đỏ » thu hút đông khách. Các cô gái ăn mặc hết sức gợi cảm đứng uốn éo sau ô kính. Nhưng bạn chớ nấn ná lâu, không nhìn chăm chú, và nhất là không được chụp ảnh… Bởi nếu nhìn chăm chú, cô gái sẽ cau mày, nếu giơ máy chụp ảnh, cô gái sẽ đập dữ dội vào kính và chỉ trong nửa phút, bảo vệ sẽ xuất hiện và xóa hết những bức ảnh.
Và ngược với nhiều quốc gia châu Âu, Chính phủ Hà Lan cho phép bán cần sa hợp pháp. Khu Phố đỏ và Cần sa hợp pháp có lẽ góp phần thu hút du khách… Amsterdam không lớn, sẽ là thiếu sót nếu ta không ghé Bảo tàng Van Gogh và Nhà Anne Frank. Bảo tàng Van Gogh chủ yếu dành cho chính họa sĩ. Được thành lập năm 1973, trên quảng trường Museumplein, Bảo tàng lưu giữ bộ sưu tập tranh họa lớn nhất thế giới của Vincent van Gogh, gồm hơn 220 bức tranh, 500 bức họa và 800 bức thư. Bảo tàng cũng trưng bày các tác phẩm của một số họa sĩ cuối thế kỷ 19. Có khu thư viện gồm hơn 24.000 cuốn sách về Van Gogh và các nghệ sĩ cùng thời. Có một điều kỳ lạ cần ghi nhận, đó là đương thời Vincent van Gogh chỉ bán được duy nhất một bức tranh. Đó là bức “Vườn nho đỏ”, hiện đang được trưng bày ở Bảo tàng Pushkin ở Moscow. Nhà Anne Frank sau này được chuyển thành Nhà bảo tàng, nằm ở quận Jordaan trên bờ kênh Prinsengracht, một trong những kênh lớn nhất thành phố, nấp dưới bóng nhà thờ Westerkerk, phía trước có bức tượng của Anne. Nhà bảo tàng Anne Frank là một trong những nơi được tham quan nhiều nhất ở Amsterdam. Một đài tưởng niệm gây xúc động dành riêng cho cuộc đời của Anne. Cô bé gốc Do Thái này đã ẩn náu tại đây cùng gia đình để trốn sự đàn áp của Đức Quốc xã trong Thế chiến II. Ghé thăm bảo tàng này quả là một trải nghiệm khó quên, mang đến cho ta một cái nhìn về lịch sử cuộc Đại chiến II qua lăng kính của một cô bé.
Chuyện kể rằng sau cuộc chiến, ngôi nhà và khu vực xung quanh rất đổ nát. Căn nhà cũng chịu nhiều biến cố, nhiều lần bị đe dọa phá hủy. Phải đến năm 1957, nhân dịp kỷ niệm 75 năm thành lập, công ty Berghaus đã hiến tặng cả tòa nhà cho Nhà Anne Frank. Quỹ Anne Frank được thành lập với mục tiêu để công chúng đến tham quan, nhưng cũng nhằm truyền bá lý tưởng của Anne Frank. Vào thời điểm đó, đích thân thị trưởng Amsterdam, ngài Van Hall, đã can thiệp bằng cách gửi một bức thư đến năm nghìn cá nhân và tổ chức kêu gọi quyên góp. Bảo tàng chính thức mở cửa ngày 3 tháng 5 năm 1960. Cùng năm đó, Shelley Winters đã tặng cho Quỹ Anne Frank giải Oscar đầu tiên của mình với Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất, dành cho phim Nhật ký Anne Frank. Từ đó, Nhà Anne Frank đã dần được cải tạo để có hình hài như hiện nay. Chúng tôi cũng ghé thăm Thư viện Amsterdam. Một tòa nhà bề thế tám tầng. Tầng trên cùng là nhà hàng và quán cà phê, xung quanh là tường kính. Du khách có thể dùng bữa hoặc thưởng thức một tách cà phê nóng trong lúc có thể ngắm cảnh quan thành phố và khu cảng. Thư viện được bày trí thông thoáng và có khoa học. Có nơi dành cho trẻ em, đa sắc và thư giãn. Có vẻ như thành phố này đã thực hiện đúng khẩu hiệu “Vừa học vừa chơi” cho các bé. Còn có nhà máy bia Heineken cũ ở Amsterdam, đến đó du khách còn hiểu thêm về một số loại bia vốn được được yêu thích nhất thế giới, vừa thưởng thức bia, vừa có thể khiêu vũ.
Có thể nhiều người sẽ ngạc nhiên bởi ngoài những thành quả đã nêu nhưng trên thực tế với địa thế nằm dưới mực nước biển, Hà Lan là quốc gia xuất khẩu nông sản lớn thứ hai thế giới. Một thành tựu đáng kể đối với quốc gia nhỏ bé này. Hà Lan còn là một quốc gia đang phát minh ra nền nông nghiệp tương lai và hiện có tham vọng là sẽ nuôi sống 10 tỷ người vào năm 2050 đồng thời vẫn tôn trọng các quy định bảo vệ khí hậu và môi trường. Dọc theo chiều dài đất nước, ta sẽ thấy có rất nhiều cối xay gió, nhiều nông trại chăn thả gia súc, nhiều nhà kính trồng rau củ quả. Các nhà kính công nghệ cao được trang bị đèn huỳnh quang. Tại đây các cảm biến đồng bộ hóa tất cả các thông số (độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng, chất dinh dưỡng, v.v.) để đạt năng suất tối ưu, với các thuật toán điều chỉnh tưới nước và sưởi ấm theo những biến đổi nhỏ nhất của thời tiết. Các nhà nghiên cứu xem xét kỹ lưỡng các hình ảnh được truyền bởi một robot quét từng cây con để ghi lại hình dạng, màu sắc, nhiệt độ và kích thước lá của cây, cung cấp nhu cầu chính xác. Không quá nhiều, không quá ít. Để giảm thiểu việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nông dân Hà Lan lựa chọn các giống cây trồng có khả năng chống chịu bệnh tật và hạn hán tốt hơn. Kết quả là, năng suất cà chua, ớt và dưa chuột của họ cao nhất thế giới. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của các trung tâm công nghệ tiên tiến đã cho phép Hà Lan đạt được những kết quả vượt trội này.
Tại Đại học Wageningen, 13.000 sinh viên đến từ 100 quốc gia đang làm việc trong các phòng thí nghiệm tại các nhà kính nông nghiệp rộng lớn của trường. Cùng với họ là tất cả các bên liên quan trong lĩnh vực nông nghiệp thực phẩm như chính quyền, các nhà nghiên cứu, các tập đoàn công nghiệp và các công ty khởi nghiệp. Họ tập trung vào trí tuệ nhân tạo và mô hình hóa để tạo ra “bản sao kỹ thuật số” của cây trồng. Hai cây sinh đôi này hầu như luôn phải đối mặt với nhiều điều kiện khắc nghiệt khác nhau (thiếu nước, bệnh tật, sâu hại, đất nghèo dinh dưỡng, v.v.). Điều này cho phép tạo ra những “cây mới” để đạt năng suất tối ưu, mang lại kết quả đáng kinh ngạc. Trong những ngày lang thang dạo chơi ở Hà Lan, với phương châm « bạn muốn biết nhiều về đời sống của dân cư địa phương, hãy đến các khu chợ phiên ngoài trời… », bởi đa phần các nông sản phẩm tại chợ đều là của chính các chủ hàng sản xuất hoặc chế biến, giá cả nhờ vậy cũng đắt hơn. Và tôi đã đến đó. Chợ phiên Rotterdam được họp tại quảng trường rộng lớn. Ngoài những gian bán đồ chơi, quần áo, vải vóc thì khu đồ ăn và thực phẩm địa phương luôn rất đông khách. Do Fromage Hà Lan cũng khá nổi tiếng tại Pháp, khách hàng đông đúc tíu tít. Tôi sán đến gần, “chủ hàng” là một cậu bé chừng 12, 13 tuổi, nhưng đã có vẻ thuần thục. Giá cả đã được ấn định sẵn. Cậu bé luôn miệng mời chào, lắng nghe và đoán khách đến từ phương nào, thôi thì tiếng Hà Lan, tiếng Anh, tiếng Pháp… cậu « chơi » tuốt. Miệng cười nói xởi lởi trong lúc tay thoăn thoắt lấy hàng gói cho khách, bấm máy tính tiền…
Bên Tây cũng giống như bên Ta, tức là đa phần con cái cứ kế thừa “sản nghiệp” của cha mẹ. Con nhà binh thì vẫn vào quân đội, con nhà bác sỹ thì đa phần vào nghề Y, còn con nhà sản xuất nông sản thì… vẫn làm công việc ấy. Mình nghĩ cậu bé bán hàng này chắc chắn cũng sẽ là một nhà sản xuất và bán rất tốt các món fromage truyền thống Hà Lan ! Paris 08 01 2026 Hiệu Constant (bài và ảnh) Một số bức ảnh khác