Thứ Tư, 18 tháng 3, 2026
Chung dòng máu Lạc Hồng: Nữ nhà văn kể chuyện quê hương
Báo Thanh Niên
Gần 30 năm sang Pháp sinh sống, đến nay chị Lê Thị Hiệu chọn cách giữ 'lửa' quê hương từ những trang sách bằng tiếng Việt và những chuyến trở về. Câu chuyện đời chị là hành trình của một người Việt xa xứ nhưng không bao giờ quên ký ức đất mẹ.
TỪ QUÊ NHÀ HÀ NỘI ĐẾN PARIS THƠ MỘNG
Sinh ra giữa vùng đồng bằng sông Hồng, chị Hiệu lớn lên trong một tuổi thơ nghèo khó nhưng ấm áp. Làng quê ngoại ô phía nam Hà Nội khi ấy còn thuộc Hà Tây cũ không điện, dùng nước giếng, cuộc sống bám ruộng đồng, nhưng chính từ nơi đó đã nuôi dưỡng trong chị một tâm hồn mơ mộng và tình yêu với tri thức.
Gia đình chị Hiệu đón Tết Nguyên đán tại Pháp
ẢNH: NVCC
Là con thứ bảy trong gia đình, chị Hiệu sớm hiểu rằng "người nhà quê" muốn đi xa chỉ có con đường học giỏi. Những buổi ra đồng hái rau cho lợn, ngước nhìn những đám mây, đàn chim giữa trời, chị lại thấy lòng mình thôi thúc cần phải vượt khỏi lũy tre làng, cần phải học để đi xa.
Lên THCS, trong khi nhiều bạn bè nghỉ học để phụ giúp gia đình, chị cố gắng học thật giỏi và kiên định theo đuổi con đường ấy. Năm thứ hai thi lại đại học, chị trở thành một trong số ít học sinh của trường đậu ngành tiếng Pháp, khoa Ngoại ngữ của ĐH Tổng hợp Hà Nội. Cũng từ đó, chị biết mình đã bước được một nửa vào giấc mơ thuở nhỏ.
Tuổi thơ của chị Hiệu đầy mơ mộng và tình yêu văn chương. Chị biết đọc từ rất sớm và rất mê đọc. Chị đọc tất cả những gì rơi vào tay mình, từ các tờ báo cũ, những cuốn truyện nhăn góc rách trang đầu trang cuối. Ngoài tác phẩm văn học VN, chị làm quen với văn học thế giới qua những bản dịch.
Ngày đó, chị chưa biết nước Pháp nằm ở đâu trên bản đồ châu Âu, nhưng lại biết khá rõ các vùng quê của nước này qua những tác phẩm của những tên tuổi lừng lẫy người Pháp. Khi thi đậu đại học ngành tiếng Pháp, chị càng nỗ lực để có thể đọc được các tác phẩm quen thuộc bằng bản ngữ.
"Thêm nữa, tôi đẩy ước mơ của mình đi xa hơn. Tôi ước một lần trong đời được đến Paris, thăm nước Pháp mà tôi đã làm quen trong các tác phẩm văn học từ thuở thiếu thời", chị Hiệu kể về năm tháng tuổi thơ.
Ra trường, chị được nhận vào cơ quan thuộc Bộ Khoa học - Môi trường thời đó và thi thoảng được phân công tham gia những chương trình hợp tác với các tổ chức của Pháp. Một ngày đẹp trời năm 1994, chị gặp anh Claude Constant trong lần vô tình phiên dịch giúp anh tại một cửa hàng bán đồ lưu niệm trên phố Hàng Gai. Sau đó, anh Claude ngỏ ý muốn làm quen với cô gái Hà Nội xinh xắn giỏi tiếng Pháp.
Trong những lần trò chuyện, cả hai thấy đồng điệu từ công việc tới cuộc sống. "Và thế là anh đã "cảm" tôi ngay từ lần ấy. Rồi cũng phải chục lần anh qua lại Paris - Hà Nội. 4 năm sau, chúng tôi kết hôn. Đến tháng 9.1998, tôi sang Pháp làm dâu", chị chia sẻ.
Những tháng ngày đầu ở Pháp, chị rất khó hòa nhập với môi trường mới do mọi thứ trên thực tế khác xa những gì đã hình dung qua những cuốn tiểu thuyết. Dần dà, chị mở lòng và xem đất nước mới này là quê hương thứ hai của mình.
Với chị, để được dân bản xứ tôn trọng, ngoài việc hòa mình vào cuộc sống ở Pháp, còn cần dũng cảm vững vàng gìn giữ bản sắc dân tộc của chính mình. "Mình không chỉ học được những điều hay của nước họ mà đồng thời còn lan tỏa hình ảnh văn hóa của quê hương mình đến với họ. Đây chính là điều khác biệt của những kiều bào thành công trên đất khách", chị Hiệu bày tỏ.
Đến tận bây giờ, sau khi đã sống gần 3 thập niên ở Pháp, chị vẫn luôn hướng về quê hương VN. Khi các con còn nhỏ, nỗi nhớ quê được gửi vào câu hát ru bằng tiếng mẹ đẻ hay những buổi dạy con nói tiếng Việt và làm những món ăn quê hương. Chị luôn kể cho các con nghe những giai thoại về tổ tiên. Cứ 2 năm, chị đưa các con về thăm quê một lần, đi khắp các vùng đất ở VN. Đến nay, các con của chị đã biết gần hết lãnh thổ VN. Đó là niềm tự hào với một người con xa xứ như chị.
KỂ CHUYỆN QUÊ HƯƠNG QUA TRANG SÁCH
Ở Pháp, chị làm một số công việc liên quan đến viết, dịch, giới thiệu các tác phẩm sách Pháp đến độc giả VN và ngược lại. Trong những dịp được mời dự giới thiệu sách tại Pháp, chị cố gắng giới thiệu tác phẩm văn học Việt và nhà văn VN đến độc giả Pháp.
Nữ nhà văn luôn giới thiệu những trang sách viết về quê hương cho cộng đồng ở Pháp
ẢNH: NVCC
Ngoài ra, chị còn cộng tác tích cực với nhiều tờ báo và đài truyền hình của quê hương. "Tôi thực hiện các phóng sự truyền hình về các sự kiện văn hóa của kiều bào Việt tại Pháp, hoặc các sự kiện liên quan đến quan hệ ngoại giao của hai nước. Tôi cũng đã tham gia thực hiện một số bộ phim tài liệu với các nhà làm phim trong nước, như phim Vòng vây lửa, phim Lực lượng Công an nhân dân trong Khúc tráng ca Điện Biên Phủ…", chị cho biết.
Bên cạnh đó, chị luôn cổ vũ, ủng hộ mỗi khi một hội đoàn mở lớp dạy tiếng Việt tại Pháp. Chị dành tặng tất cả sách tiếng Việt, những tác phẩm mà chị từng dạy cho chính các con mình. Cũng từ đó, chị đi viết, đi quay về các buổi khai trường và bế giảng lớp học. Chị kể lại hành trình của mình cho học sinh kiều bào, giáo viên, chia sẻ kinh nghiệm dạy con nói tiếng Việt.
Trong vai trò dịch giả và nhà văn, chị luôn có những tác phẩm giúp kiều bào hiểu hơn về quê hương, gìn giữ ngôn ngữ nguồn cội. Trong các tự truyện và ký như: Làm dâu nước Pháp hay Kiều bào với Trường Sa…, chị đều thổi tình yêu quê hương vào từng con chữ.
"Tôi nghĩ đã có thể làm được những điều ấy vì tôi rất thương nhớ bố mẹ tôi, yêu quê hương VN của mình, yêu nước Pháp, yêu tiếng Việt, yêu tiếng Pháp", chị nói trong xúc động.
NHỮNG DÒNG CHỮ VỀ TRƯỜNG SA THÂN YÊU
Từ thời còn là nữ sinh, chị Hiệu đã mơ về Trường Sa. Thời gian trôi, những suy nghĩ, tư duy về vùng biển đảo máu thịt của Tổ quốc càng trở nên cụ thể, đau đáu và tha thiết.
"Tôi muốn được tận mắt chứng kiến sự anh dũng của lực lượng Hải quân VN. Tôi muốn được bắt tay để nói lời tri ân đến các cán bộ chiến sĩ hải quân đang ngày đêm kiên cường canh giữ biển đảo của Tổ quốc. Tôi cũng muốn thăm hỏi các ngư dân đã rời quê đến sinh sống tại đó, và còn có các thầy giáo, các trụ trì chùa và tiếng chuông chùa ngân vang hằng ngày trên những con sóng mênh mông như một lời tuyên bố chủ quyền, một cột mốc chủ quyền tâm linh giữa trùng khơi bao la", nữ nhà văn chia sẻ.
Chị Lê Thị Hiệu và những chuyến thăm Trường Sa thân yêu
ẢNH: NVCC
Thế là những bước chân đến Trường Sa của chị cứ thế được nối tiếp trong nhiều năm. Chị Hiệu bày tỏ mọi thứ trên mỗi hòn đảo đều khiến chị xúc động. Tại đảo Đá Nam, chị chứng kiến một hình ảnh không thể nào quên. Trong khi mọi người đang giao lưu trong hội trường thì một nữ ca sĩ của Nhà hát ca múa nhạc Quân đội đến bên một tiêu binh trẻ đang đứng gác cạnh cột mốc chủ quyền và hát.
"Tôi thấy đôi hàng nước mắt chảy dài trên má cậu ấy, nữ ca sĩ vừa hát vừa lấy khăn lau cho cậu. Chiến sĩ trẻ có đôi giây như giật mình nhưng rồi lấy lại tư thế vững vàng ngay. Tất cả chỉ diễn ra trong chừng 30 giây, song các kiều bào đều nhìn thấy. Cảnh ấy khiến tôi thực sự xúc động. Với thái độ như vậy, tôi tin tưởng vào sự vững tâm, ý chí kiên cường của các chiến sĩ. Điều ấy càng khiến tôi ngưỡng mộ và luôn tri ân họ", chị Hiệu kể lại.
Qua từng ấy thời gian và nghiệm lại cuộc sống, sự nghiệp của mình ở Pháp, nữ nhà văn nhìn nhận bản thân là người đắm đuối với ngôn ngữ, con chữ, thiết tha với quê hương. Chính tình yêu đó là đòn bẩy, truyền cảm hứng để chị sắp xếp những con chữ thành văn trên giấy. "Không có quê hương hẳn tôi sẽ khó sống tốt và an nhiên trên đất Pháp. Không có các con chữ, sẽ chẳng biết làm gì, bởi ngoài viết ra, tôi làm gì cũng rất tệ", chị Hiệu nói đầy cảm xúc.
Tin liên quan
Thứ Năm, 19 tháng 2, 2026
Một thoáng Hà Lan
Một thoáng Hà Lan
Bài đăng trên báo ANTG
https://antgct.cand.com.vn/Nguoi-trong-cuoc/ha-lan-moi-chi-dam-ngay-i796197/
Thành phố Rotterdam đón chúng tôi bằng cơn mưa cuối mùa. Nước xối xả trút xuống rồi lại tạnh khá nhanh, đủ để khách phương xa ghé vào một quán cà phê thưởng thức bữa điểm tâm sáng sau một chặng đường dài từ Paris. Người Rotterdam nồng hậu và mến khách.
Rotterdam nằm ở phía tây nam Hà Lan, gần thành phố Den Haag. Vùng đất này có một lịch sử thăng trầm qua nhiều biến loạn. Vào đầu thế kỷ XIV chỉ là một làng chài đơn sơ nhưng giờ đây Rotterdam đã là một trong những hải cảng lớn nhất thế giới. Cảng Rotterdam chiếm khoảng 40% lưu lượng hàng hóa của châu Âu, do vậy nơi đây không chỉ là trung tâm ngoại thương chính của Hà Lan mà còn là trung tâm thương mại và giao thông quan trọng trong khu vực. Đi dạo thành phố, ta sẽ gặp những tòa nhà có kiến trúc khác lạ, hiện đại và nguy nga, xứng danh là nơi có ngành du lịch đô thị phát triển. Rotterdam tự hào sở hữu thế mạnh về kiến trúc. Bởi sau chiến tranh các nhà lãnh đạo đã quyết định không tái thiết nguyên trạng các khu đã bị tàn phá, thay vào đó là đề nghị các kiến trúc sư thiết kế một thành phố mới. Thành phố có rất nhiều tòa nhà chọc trời, các nhà bảo tàng, các tác phẩm điêu khắc trải khắp thành phố. Nhưng đâu đó vẫn còn một số làng chài truyền thống với sự cổ kính an bình.
Diện tích không lớn, nhưng phân nửa dân số là nhập cư, đến từ trên một trăm quốc gia và lãnh thổ khác nhau nên Rotterdam nổi tiếng là thành phố đa văn hóa và được công nhận là Thủ đô văn hóa Châu Âu năm 2001. Có lẽ vì thế mà Rotterdam rất độc đáo, tràn ngập bầu không khí năng động và sáng tạo.
Từ Rotterdam đến Amsterdam, chúng ta sẽ đi qua Den Haag, thành phố có nhiều trụ sở quan trọng của Hà Lan, trong đó có Tòa án Hình sự Quốc tế. Tôi thực sự xúc động được mục sở thị một tòa nhà bề thế và hiện đại. So với nhiều Tổ chức quốc tế khác thì Tòa án Hình sự Quốc tế còn khá non trẻ nhưng là Tòa án Quốc tế thường trực đầu tiên và duy nhất có quyền truy tố, xét xử cá nhân phạm tội diệt chủng, tội ác chống lại loài người, tội ác chiến tranh và tội ác xâm lược. Tòa án Hình sự Quốc tế được thành lập vào năm 2002 thông qua Hiệp ước Roma, và được coi là một bước tiến, sự đổi mới lớn trong luật Quốc tế và nhân quyền.
Nếu Rotterdam sở hữu nhiều tòa nhà chọc trời thì thủ đô Amsterdam lại ít hơn! Những tòa nhà nơi đây mang kiến trúc duyên dáng và điệu đàng, khá cổ điển. Khu cảng Amsterdam lúc nào cũng nhộn nhịp. Từ Quảng trường Nhà ga trung tâm, ta dễ dàng mua vé tàu thủy đi dạo trên những con kênh xinh xắn, được gọi là tiểu Venice. Đẹp như tranh ! Trên đường tàu điện kêu leng keng. Rất nhiều tàu điện và mỗi tàu lại được trang trí rất bắt mắt. Amsterdam không nhiều xe hơi và không hổ danh là thành phố xe đạp ! Nối đôi bờ con sông lớn là những chuyến phà miễn phí, 5 phút một chuyến và lần nào cũng đông khách. Bên này là thành phố chính, nhà cửa đông đúc, nhưng sang phía bên kia đã là một thế giới khác. Những ngôi nhà cổ kính hơn, vườn rộng đơn sơ, cầu gỗ vượt qua những kênh nhỏ. Tại đó có một số nhà bảo tàng hiện đại và tháp A'dam Lookout. Chỉ cần bỏ 18,5 Euros, chúng ta sẽ được chứng kiến những điều hết sức thú vị. Thang máy chạy rất nhanh với hiệu ứng âm thanh, ánh sáng sẽ đưa khách lên tầng 20 để ngắm nhìn toàn cảnh thành phố. Trên sân thượng còn có trò đu dây, một cảm giác lửng lơ trên không, cao hơn mặt đất cả 100 mét.
Amsterdam về đêm vô cùng nhộn nhịp. Trên bến dưới thuyền. Ánh điện từ các cửa hiệu sang trọng hắt xuống các dòng kênh, các con thuyền từ từ lướt đi, khung cảnh hết sức huyền ảo. Các nhà hàng và quán cà phê chật cứng. Khu « Phố đỏ » thu hút đông khách. Các cô gái ăn mặc hết sức gợi cảm đứng uốn éo sau ô kính. Nhưng bạn chớ nấn ná lâu, không nhìn chăm chú, và nhất là không được chụp ảnh… Bởi nếu nhìn chăm chú, cô gái sẽ cau mày, nếu giơ máy chụp ảnh, cô gái sẽ đập dữ dội vào kính và chỉ trong nửa phút, bảo vệ sẽ xuất hiện và xóa hết những bức ảnh.
Và ngược với nhiều quốc gia châu Âu, Chính phủ Hà Lan cho phép bán cần sa hợp pháp. Khu Phố đỏ và Cần sa hợp pháp có lẽ góp phần thu hút du khách…
Amsterdam không lớn, sẽ là thiếu sót nếu ta không ghé Bảo tàng Van Gogh và Nhà Anne Frank. Bảo tàng Van Gogh chủ yếu dành cho chính họa sĩ. Được thành lập năm 1973, trên quảng trường Museumplein, Bảo tàng lưu giữ bộ sưu tập tranh họa lớn nhất thế giới của Vincent van Gogh, gồm hơn 220 bức tranh, 500 bức họa và 800 bức thư. Bảo tàng cũng trưng bày các tác phẩm của một số họa sĩ cuối thế kỷ 19. Có khu thư viện gồm hơn 24.000 cuốn sách về Van Gogh và các nghệ sĩ cùng thời. Có một điều kỳ lạ cần ghi nhận, đó là đương thời Vincent van Gogh chỉ bán được duy nhất một bức tranh. Đó là bức “Vườn nho đỏ”, hiện đang được trưng bày ở Bảo tàng Pushkin ở Moscow.
Nhà Anne Frank sau này được chuyển thành Nhà bảo tàng, nằm ở quận Jordaan trên bờ kênh Prinsengracht, một trong những kênh lớn nhất thành phố, nấp dưới bóng nhà thờ Westerkerk, phía trước có bức tượng của Anne. Nhà bảo tàng Anne Frank là một trong những nơi được tham quan nhiều nhất ở Amsterdam. Một đài tưởng niệm gây xúc động dành riêng cho cuộc đời của Anne. Cô bé gốc Do Thái này đã ẩn náu tại đây cùng gia đình để trốn sự đàn áp của Đức Quốc xã trong Thế chiến II. Ghé thăm bảo tàng này quả là một trải nghiệm khó quên, mang đến cho ta một cái nhìn về lịch sử cuộc Đại chiến II qua lăng kính của một cô bé.
Chuyện kể rằng sau cuộc chiến, ngôi nhà và khu vực xung quanh rất đổ nát. Căn nhà cũng chịu nhiều biến cố, nhiều lần bị đe dọa phá hủy. Phải đến năm 1957, nhân dịp kỷ niệm 75 năm thành lập, công ty Berghaus đã hiến tặng cả tòa nhà cho Nhà Anne Frank. Quỹ Anne Frank được thành lập với mục tiêu để công chúng đến tham quan, nhưng cũng nhằm truyền bá lý tưởng của Anne Frank. Vào thời điểm đó, đích thân thị trưởng Amsterdam, ngài Van Hall, đã can thiệp bằng cách gửi một bức thư đến năm nghìn cá nhân và tổ chức kêu gọi quyên góp. Bảo tàng chính thức mở cửa ngày 3 tháng 5 năm 1960. Cùng năm đó, Shelley Winters đã tặng cho Quỹ Anne Frank giải Oscar đầu tiên của mình với Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất, dành cho phim Nhật ký Anne Frank. Từ đó, Nhà Anne Frank đã dần được cải tạo để có hình hài như hiện nay.
Chúng tôi cũng ghé thăm Thư viện Amsterdam. Một tòa nhà bề thế tám tầng. Tầng trên cùng là nhà hàng và quán cà phê, xung quanh là tường kính. Du khách có thể dùng bữa hoặc thưởng thức một tách cà phê nóng trong lúc có thể ngắm cảnh quan thành phố và khu cảng. Thư viện được bày trí thông thoáng và có khoa học. Có nơi dành cho trẻ em, đa sắc và thư giãn. Có vẻ như thành phố này đã thực hiện đúng khẩu hiệu “Vừa học vừa chơi” cho các bé.
Còn có nhà máy bia Heineken cũ ở Amsterdam, đến đó du khách còn hiểu thêm về một số loại bia vốn được được yêu thích nhất thế giới, vừa thưởng thức bia, vừa có thể khiêu vũ.
Có thể nhiều người sẽ ngạc nhiên bởi ngoài những thành quả đã nêu nhưng trên thực tế với địa thế nằm dưới mực nước biển, Hà Lan là quốc gia xuất khẩu nông sản lớn thứ hai thế giới. Một thành tựu đáng kể đối với quốc gia nhỏ bé này. Hà Lan còn là một quốc gia đang phát minh ra nền nông nghiệp tương lai và hiện có tham vọng là sẽ nuôi sống 10 tỷ người vào năm 2050 đồng thời vẫn tôn trọng các quy định bảo vệ khí hậu và môi trường.
Dọc theo chiều dài đất nước, ta sẽ thấy có rất nhiều cối xay gió, nhiều nông trại chăn thả gia súc, nhiều nhà kính trồng rau củ quả. Các nhà kính công nghệ cao được trang bị đèn huỳnh quang. Tại đây các cảm biến đồng bộ hóa tất cả các thông số (độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng, chất dinh dưỡng, v.v.) để đạt năng suất tối ưu, với các thuật toán điều chỉnh tưới nước và sưởi ấm theo những biến đổi nhỏ nhất của thời tiết. Các nhà nghiên cứu xem xét kỹ lưỡng các hình ảnh được truyền bởi một robot quét từng cây con để ghi lại hình dạng, màu sắc, nhiệt độ và kích thước lá của cây, cung cấp nhu cầu chính xác. Không quá nhiều, không quá ít.
Để giảm thiểu việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nông dân Hà Lan lựa chọn các giống cây trồng có khả năng chống chịu bệnh tật và hạn hán tốt hơn. Kết quả là, năng suất cà chua, ớt và dưa chuột của họ cao nhất thế giới. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của các trung tâm công nghệ tiên tiến đã cho phép Hà Lan đạt được những kết quả vượt trội này.
Tại Đại học Wageningen, 13.000 sinh viên đến từ 100 quốc gia đang làm việc trong các phòng thí nghiệm tại các nhà kính nông nghiệp rộng lớn của trường. Cùng với họ là tất cả các bên liên quan trong lĩnh vực nông nghiệp thực phẩm như chính quyền, các nhà nghiên cứu, các tập đoàn công nghiệp và các công ty khởi nghiệp. Họ tập trung vào trí tuệ nhân tạo và mô hình hóa để tạo ra “bản sao kỹ thuật số” của cây trồng. Hai cây sinh đôi này hầu như luôn phải đối mặt với nhiều điều kiện khắc nghiệt khác nhau (thiếu nước, bệnh tật, sâu hại, đất nghèo dinh dưỡng, v.v.). Điều này cho phép tạo ra những “cây mới” để đạt năng suất tối ưu, mang lại kết quả đáng kinh ngạc.
Trong những ngày lang thang dạo chơi ở Hà Lan, với phương châm « bạn muốn biết nhiều về đời sống của dân cư địa phương, hãy đến các khu chợ phiên ngoài trời… », bởi đa phần các nông sản phẩm tại chợ đều là của chính các chủ hàng sản xuất hoặc chế biến, giá cả nhờ vậy cũng đắt hơn. Và tôi đã đến đó. Chợ phiên Rotterdam được họp tại quảng trường rộng lớn. Ngoài những gian bán đồ chơi, quần áo, vải vóc thì khu đồ ăn và thực phẩm địa phương luôn rất đông khách.
Do Fromage Hà Lan cũng khá nổi tiếng tại Pháp, khách hàng đông đúc tíu tít. Tôi sán đến gần, “chủ hàng” là một cậu bé chừng 12, 13 tuổi, nhưng đã có vẻ thuần thục. Giá cả đã được ấn định sẵn. Cậu bé luôn miệng mời chào, lắng nghe và đoán khách đến từ phương nào, thôi thì tiếng Hà Lan, tiếng Anh, tiếng Pháp… cậu « chơi » tuốt. Miệng cười nói xởi lởi trong lúc tay thoăn thoắt lấy hàng gói cho khách, bấm máy tính tiền…
Bên Tây cũng giống như bên Ta, tức là đa phần con cái cứ kế thừa “sản nghiệp” của cha mẹ. Con nhà binh thì vẫn vào quân đội, con nhà bác sỹ thì đa phần vào nghề Y, còn con nhà sản xuất nông sản thì… vẫn làm công việc ấy. Mình nghĩ cậu bé bán hàng này chắc chắn cũng sẽ là một nhà sản xuất và bán rất tốt các món fromage truyền thống Hà Lan !
Paris 08 01 2026
Hiệu Constant (bài và ảnh)
Một số bức ảnh khác
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)





















