Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025
Đoạn chư phiền não - Lão Pháp Sư Tịnh Không
“”. Đây là Huệ căn.
Huệ căn, theo chú giải ở trong “Giáo Thừa Pháp Số” là “dĩ quán tự chiếu, quyết trạch phân minh”. Câu nói này chú trọng ở “quán”. Cương lĩnh tu hành của nhà Phật có danh từ gọi là “quán chiếu, tác quán”. Chữ này là chữ đại biểu. Không chỉ là nhãn quán, tai nghe cũng gọi là quán, mũi ngửi hương cũng gọi là quán, sáu căn tiếp xúc với sáu trần đều gọi là quán, dùng một chữ này để đại biểu.
Thế nào mới gọi là quán? “Lìa tâm ý thức” thì gọi là quán. Tuy Tông môn, Giáo Hạ nói pháp không như nhau, nhưng ý nghĩa của nó đều giống nhau. Cho nên, Phật pháp không nói “nghiên cứu” (vì nghiên cứu là chưa lìa khỏi tâm ý thức), mà nhà Phật gọi là “tham cứu” (tham cứu chính là không dùng tâm ý thức). Lời nói này chúng ta nghe qua vẫn không dễ hiểu. Vì sao vậy? Tâm ý thức là hư vọng, không phải chân thật. Dùng tâm ý thức hư vọng thì quyết định không thể nào thấy được chân thật, chúng ta thường nói “chân tướng vũ trụ nhân sanh”. “Vọng” không thể nào chứng được “chân”, chỉ có “chân” mới có thể chứng “chân”. “Chân” là cái gì? “Chân” là chân tánh. Quán là tự tánh khởi dụng, nghiên cứu là ý thức khởi dụng, trên hình thức dường như là giống nhau, nhưng trên thực tế khác nhau rất lớn. Người học Phật vì sao có thể tu hành chứng quả, còn người thế gian vì sao không làm được? Tóm lại mà nói, chính là bạn dụng tâm sai, bạn dùng vọng tâm, bạn không biết dùng chân tâm. Dùng chân tâm mới có thể thấy được chân tướng. Trong chân tâm không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.
Các vị phải nên biết, tâm tập khởi chính là vọng tưởng. Vọng tưởng biến thành chủng tử của A Lại Da thức. Ý thức là phân biệt, Mạt Na là chấp trước. Không dùng tâm ý thức, hay nói cách khác, ngay trong cuộc sống thường ngày không có vọng tưởng chính là không dùng A Lại Da, không có phân biệt chính là không dùng thức thứ sáu, không có chấp trước chính là không dùng thức thứ bảy. Đại sư Giao Quang trong “Lăng Nghiêm Chánh Mạch” chủ trương “xả thức, dùng căn”, đạo lý chính ngay chỗ này, chính là nói xả tám thức, dùng căn tánh của sáu căn. Căn tánh sáu căn là chân tâm, căn tánh không có phân biệt. Cho nên Ngài dạy chúng ta dùng tánh thấy để thấy tất cả vạn pháp, dùng tánh nghe để nghe tất cả âm thanh, bạn liền thấy được chân tướng. Nếu bạn biết dùng căn tánh của sáu căn, thì bạn liền thành Phật, chư Phật Như Lai. Chúng ta đem trình độ hạ thấp xuống đến mức thấp nhất, viên sơ trụ Bồ Tát phá một phẩm vô minh, chứng một phần pháp thân, họ không còn dùng tám thức, năm mươi mốt tâm sở nữa. Các vị phải nên biết, chúng sanh trong mười pháp giới (bao gồm Phật ở trong mười pháp giới) đều dùng tâm ý thức, đều không lìa khỏi tám thức. Lìa khỏi tám thức liền đến được pháp giới nhất chân. Trong kinh Hoa Nghiêm nói, “thế giới Hoa Tạng” hoàn toàn không dùng tâm ý thức (thế giới Tây Phương Cực Lạc cũng là thế giới Hoa Tạng). Chúng ta biết được đạo lý này, nhưng không thể chuyển lại được. Tại vì sao không chuyển đổi được? Vì vô lượng kiếp đến nay, chúng ta dùng tâm ý thức đã quen rồi, học Phật vẫn là dùng tâm ý thức mà học. Cho nên, học Phật không khai ngộ, học giáo không thể đại khai viên giải, tham thiền không thể đại triệt đại ngộ, niệm Phật không thể nhất tâm bất loạn, nguyên nhân là dùng tâm ý thức, không hiểu được tác quán.
Thiền tông tu hành có ba giai đoạn. Công phu ban đầu là “quán chiếu”, tương đương với “công phu thành khối” của Tịnh Độ tông chúng ta. Đạt đến trình độ này, ở Thiền tông hay ở Giáo hạ đều không thể xem là thành tựu. Vì sao vậy? Không thể liễu sanh tử, không thể ra ba cõi, công phu này tuy đắc lực, nhưng không có năng lực siêu vượt ba cõi. Thế nhưng ở Tịnh Độ tông thì được, Tịnh Độ tông có công phu này thì khẳng định vãng sanh về cõi Phàm Thánh Đồng Cư, cho nên Tịnh Độ không thể nghĩ bàn. Sự thù thắng của Tịnh Độ chính ngay ở chỗ này. Bạn dựa vào các pháp môn khác thì không được, bạn không cách gì thoát khỏi sáu cõi luân hồi. Tịnh Độ chỉ cần điểm công phu nhỏ này thì đủ rồi.
Hướng nâng lên trên cao là “chiếu trụ”. Đạt đến công phu “chiếu trụ” là được định. Công phu cao nhất là “chiếu kiến”. Chiếu kiến là minh tâm kiến tánh. Chúng ta đọc “Tâm Kinh”: “Quán Tự Tại Bồ Tát chiếu kiến”, đây là công phu tối thượng thừa, là minh tâm kiến tánh. Cho nên, tu các pháp môn khác nhất định phải đạt đến “chiếu kiến” thì bạn mới có thể rời khỏi mười pháp giới, mới có thể chứng được pháp giới nhất chân. Chứng được pháp giới nhất chân chính là bạn đã chứng được thật tướng các pháp. Bạn công phu không đến “chiếu kiến” thì không được. Thế nhưng ở Tịnh Độ tông đích thực không như vậy, cho nên đây là một pháp môn đặc biệt, có công phu của “quán chiếu” liền có thể sanh cõi Phàm Thánh Đồng Cư, công phu “chiếu trụ” thì sanh cõi Phương Tiện Hữu Dư, công phu “chiếu kiến” thì sanh cõi Thật Báo Trang Nghiêm, họ thảy đều vãng sanh. Bốn độ của thế giới Cực Lạc là thành tựu như vậy. Thế nhưng lại có một đặc biệt mà trong mười phương cõi nước chư Phật không có, đó là thế giới Tây Phương tuy có bốn cõi, nhưng bốn cõi đều bình đẳng. Việc này không thể nghĩ bàn, đây là được chư Phật tán thán.
Thế gian này của chúng ta, bốn cõi không bình đẳng. Pháp Thân Đại Sĩ, chúng ta không thấy được họ; A La Hán, chúng ta cũng không thấy được họ. Công phu của A La Hán là tầng thứ hai - “chiếu trụ”, Pháp Thân Đại Sĩ là tầng thứ ba - “chiếu kiến”. Đến công phu thành khối, ở trong pháp môn thông thường mà nói, là cảnh giới Tu Đà Hoàn Tiểu Thừa. Đây là vừa mới vào cửa, chúng ta đều không cách gì làm được. Tu Đà Hoàn Tiểu Thừa buông xả chấp trước rồi, không chấp trước cái thân này là ta, không còn chấp trước tự tư tự lợi, ngay đến thân còn không chấp trước, huống hồ là vật ngoài thân. Đường chủ niệm Phật đường thường hay có câu: “Khẩu đầu thiền trên miệng, thân tâm thế giới tất cả buông xả”. Buông xả tất cả thân tâm thế giới, công phu mới thành khối. Nếu còn có một việc không thể buông xuống, thì công phu của bạn liền không thể thành khối, hay nói cách khác, bạn không thể nắm được phần vãng sanh. Bạn thật được công phu thành khối, bạn đích thực là nắm được phần vãng sanh. Đây là trí tuệ, có thể đoạn phiền não. Chấp trước là phiền não (gọi là kiến tư phiền não), phân biệt là phiền não (gọi là trần sa phiền não), vọng tưởng là phiền não (gọi là vô minh phiền não). Công phu thành khối là phá được tầng thứ nhất, đây là “quán chiếu”; đến “chiếu trụ” thì phá được tầng thứ hai; “chiếu kiến” thì phá được tầng thứ ba. Nhà Phật thường nói “quán”, các vị phải ghi nhớ, “quán” là không dùng tâm ý thức, cũng chính là không dùng vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.
Sau cùng là nói đến “chỉ quán”, ý nghĩa này phải hướng vào chỗ sâu mà giảng. “Chỉ” là định, “quán” là huệ. Do đây có thể biết, nếu không đoạn phiền não thì không phải là thánh nhân. Nói đến “thánh nhân”, khái niệm của chúng ta lại rất mơ hồ, vẫn không rõ ràng. Nếu đổi cách khác mà nói, phiền não nếu không đoạn thì bạn không phải là một người sáng suốt. Các vị phải nên biết, ý nghĩa của chữ “thánh” này chính là tường tận, chân thật hiểu rõ, không có chút nghi hoặc, trong Phật pháp gọi là “người giác ngộ”, chính là Chánh Giác, Chánh Đẳng Chánh Giác, Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đây đều gọi là thánh nhân. Chánh Giác là tiểu thánh, Chánh Đẳng Chánh Giác là đại thánh. Cách nói này mọi người dễ hiểu. Chúng sanh đang mê, mê mà không giác; chư Phật Bồ Tát giác, giác mà không mê. Tại vì sao các Ngài giác? Các Ngài dùng “quán”, không dùng “tưởng”. Chúng ta thì việc gì “bạn tưởng tượng” thì dùng tư, dùng tưởng. Tư tưởng thì sai lầm, tư tưởng là hư vọng. Người Trung Quốc tạo chữ rất có trí tuệ. Thánh nhân thì dùng một tâm, đó là chân tâm. Phàm phu chúng ta không biết dùng tâm này, mà dùng tư tưởng. “Tư” là cái gì? Là phân biệt, chấp trước. Bạn xem thấy chữ “Tư”, trong tâm khởi lên giới hạn (chữ “Điền” là giới hạn), tâm vốn dĩ là rộng lớn vô biên, hiện tại vẽ thành rất nhiều ô cắt, vậy thì hỏng rồi, không phải là chân tâm. Trong chân tâm không có tướng. “Tưởng” liền khởi lên cái tướng, liền có hiện tướng, tướng đó là huyễn tướng. Cho nên thánh nhân không dùng tư tưởng, họ không có tư tưởng. Đại sư Vĩnh Gia nói rất hay: “Phân biệt cũng không phải ý”. Bạn nói Ngài có phân biệt, có chấp trước hay không? Ngài có chấp trước. Thế nhưng phân biệt của Ngài, chấp trước của Ngài không phải tư, cũng không phải tưởng, chính là ý này.
Chân tâm tại vì sao có thể có tư tưởng? Bạn có tư, có tưởng, nếu tôi không dùng tư để đối với tư của bạn, không dùng tưởng để đối với tưởng của bạn, thì bạn làm sao hiểu được ý của tôi? Phàm phu dùng tâm giống như máy chụp hình vậy, chụp một tấm thì phim gốc lưu lại một cái hình. Thánh nhân dụng tâm giống như một tấm gương vậy, nó chiếu được rõ ràng tường tận, nhưng không để lại dấu tích nào. Khi bạn chiếu, người đi nó cũng không lưu lại dấu tích, thì ngay lúc khi chiếu nó lại hà tất lưu lại dấu tích? Đây gọi là “phân biệt cũng không phải ý”. Người ta cao là cao ngay chỗ này. Các Ngài thị hiện trên thế gian này cùng hòa chung với người thế gian, trên thực tế không hề tiêm nhiễm chút nào. Đây là bản lĩnh của các Ngài. Thuật ngữ của nhà Phật gọi là “bất biến tùy duyên, tùy duyên bất biến”. Hai câu nói này mọi người nghe rất quen tai.
Năm xưa tôi giảng kinh, đem hai câu nói này mở rộng làm thành bốn câu.
“Bất biến tùy duyên” đây là Phật. Phật ở chỗ này là nghĩa rộng, Pháp Thân Bồ Tát chính là Phật, trong tông môn thường nói “minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật”, cho nên viên giáo sơ trụ Bồ Tát cũng gọi là Phật.
Trên kinh Lăng Nghiêm nói “chư Phật Như Lai”, bạn xem chú giải trong “Giảng Nghĩa” của cư sĩ Giang Vị Nông, trên kinh nói “chư Phật” chính là từ Viên Giáo Sơ Trụ Bồ Tát đến quả vị cứu cánh, bốn mươi hai vị thứ này gọi là chư Phật. Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, bốn mươi vị thứ này thêm vào Đẳng Giác và Diệu Giác (Diệu Giác chính là Phật quả cứu cánh), đây gọi là chư Phật. Các Ngài không dùng tâm ý thức. Nếu còn dùng tâm ý thức thì dùng được rất chánh, không dùng tà, không hề dùng sai, đây gọi là “tương tợ vị”. Là những người nào vậy? Pháp giới bốn thánh trong mười pháp giới: A La Hán, Bích Chi Phật, Bồ Tát, Phật (Phật trong mười pháp giới chưa kiến tánh). Thiên Thai tông, trong bốn giáo đã nói thì “Tạng Giáo Phật, Thông Giáo Phật” chưa kiến tánh, là Phật trong mười pháp giới. Biệt Giáo Phật là pháp giới nhất chân. Trong bốn giáo đã nói, “Biệt Giáo Sơ Trụ” tương đương với “Viên Giáo Sơ Trụ”. Do đây có thể biết, Phật quả của Biệt Giáo là Bồ Tát Viên Giáo nhị hạnh vị (ở đoạn chứng tương đương với Bồ Tát nhị hạnh vị). Những sự lý này chúng ta đều phải rõ ràng. Sau đó chính mình bình lặng mà xét nghĩ, chúng ta ngay trong một đời có thể làm được hay không? Căn tánh của các vị đồng tu tôi không biết, còn tôi thì làm không được. Không cần nói phẩm vị cao, ngay đến quả Tu Đà Hoàn, chúng ta đều không cách gì làm được, đều không dễ dàng.
Ngày nay chúng ta nói công phu thành khối có thể vãng sanh. Công phu thành khối đến trình độ nào? Mỗi một vị thứ đều có ba bậc, chín phẩm, chúng ta đạt đến công phu thành khối trong hạ hạ phẩm đều có thể vãng sanh. Chính bởi đạo lý như vậy, cho nên mười phương tất cả chư Phật, không vị nào không tán thán A Di Đà Phật. Các Ngài chân thật là phổ độ tất cả chúng sanh.
Công phu thành khối hạ hạ phẩm vãng sanh, thành thật mà nói, phiền não một phẩm đều chưa đoạn, nhưng khắc phục được, dùng câu Phật hiệu này hoàn toàn khống chế được phiền não. Cho nên niệm Phật phải biết niệm, trong tâm ý niệm vừa khởi lên, cho dù nó là niệm thiện hay niệm ác, lập tức liền dùng câu “A Di Đà Phật” đè xuống. Ngay trong hai đến sáu thời, quyết định không cho phép ý niệm của chính mình khởi lên. Ý niệm thứ nhất chắc chắn sẽ khởi lên, thì ý niệm thứ hai phải là “A Di Đà Phật”, liền đem nó đè xuống. Bạn làm công phu này, bạn nhất định được chỗ tốt. Vị đồ đệ làm nghề vá nồi của lão hòa thượng Đế Nhàn niệm Phật được ba năm thì thành tựu, phương pháp không gì khác hơn, ông biết dùng công phu này, quyết định không cho phép trong tâm có một tạp niệm. Một ngày từ sớm đến tối, ông chỉ chuyên tưởng có một câu A Di Đà Phật, ông đã thành công. Bạn thấy, ông ấy vãng sanh tự tại như vậy, biết trước giờ ra đi, đứng mà vãng sanh. Lão Hòa Thượng tán thán nói, pháp sư giảng kinh thông thường, Phương Trượng danh sơn bảo sát đều không thể bằng ông. Lời nói này là thật, không phải giả. Làm sao ông được tự tại như vậy? Chính là trong tâm ông không có một tạp niệm nào, câu Phật hiệu này khởi lên tác dụng. Chúng ta phải hiểu được đạo lý này.
Bạn xem, hiện tại thế gian này rất nhiều người tu Mật, thượng sư dạy họ quán tưởng, nghiêm khắc đốc thúc họ, họ quán tưởng thành công. Mấy ngày trước, tôi gặp được một vị cư sĩ, ông nói với tôi, có một thượng sư Mật tông dạy họ quán tưởng, họ quán tưởng đại khái có bốn hay năm tháng rồi. Hiện tại họ nói trên đầu của họ có cái gì đó rất nóng, nóng hâm hâm. Ngày ngày quán, quán đã thành công, “tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”. Tôi ở HongKong gặp được một vị tín đồ, ông tu pháp luân công, cũng rất nỗ lực mà quán tưởng. Hiện tại trong bụng của ông có một cái pháp luân, vậy thì rất phiền phức. Ông rất đau khổ hỏi tôi: “Thưa pháp sư! Có phương pháp gì để lấy nó ra không?”. Tôi nói: “Có! Đổi phương pháp quán, đó là quán Phật, bạn có thể tập trung tâm lực mà quán Phật, không nên để ý đến cái pháp luân đó. Bạn trải qua nửa năm, Phật hiện tiền rồi thì cái pháp luân đó sẽ không còn”. “Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”, trong tâm bạn cứ nghĩ đến cái đó, vậy thì nó có. Nếu bạn quên mất nó đi, thì nó sẽ không còn. Nó là hư vọng, không phải là chân thật có, bạn phải biết đạo lý này. Thân thể người rất khỏe mạnh, ngày ngày hoài nghi “ta đau chỗ này, ta đang có bệnh”, trải qua mấy ngày thì thật có bệnh. Vì sao vậy? Do nghĩ mà ra, “tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”. Tại sao bạn không nghĩ đến khỏe mạnh, mà lại nghĩ bị bệnh? Tại sao ngày ngày bạn không nghĩ an vui, mà nghĩ phiền não?
Ý niệm là chủ tể, ý niệm thế xuất thế gian đều là chủ tể. Xuất thế gian đến pháp Đại Thừa là không có ý niệm. Có niệm mới có thiện ác, không có niệm thì làm gì có thiện ác? Có niệm thì có tà chánh, có chân vọng; không có niệm thì không có tà chánh, cũng không có chân vọng, vậy mới đến thuần chân không vọng. Pháp Thân Đại Sĩ vào cảnh giới này. Trong mười pháp giới có tà chánh, có chân vọng, có thiện ác. Trong pháp giới nhất chân không có, như vậy mới có thể chân thật đoạn phiền não. Cho nên, nếu như “huệ” không có gốc, thì bạn không thể đoạn được phiền não. Huệ phải có căn, có căn còn phải hướng nâng lên trên cao, là phải có lực.
A DI ĐÀ PHẬT
TRÍCH TỪ PHẬT THUYẾT THẬP THIỆN NGHIỆP ĐẠO KINH
Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không
Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Singapore
Thời gian: năm 2001
Tập 65
Thứ Tư, 25 tháng 6, 2025
Lâu đài Fontainebleau – “Dinh thự gia đình Hoàng gia” trong gần 9 thế kỷ của các Vua và Hoàng đế Pháp
Lâu đài Fontainebleau – “Dinh thự gia đình Hoàng gia” trong gần 9 thế kỷ của các Vua và Hoàng đế Pháp
“Nếu chúng ta cứ quá để tâm lo lắng khi nào mọi việc sẽ hoàn thành thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ thực hiện được điều gì cả", (vua Francois I)
Lâu đài Fontainebleau Dinh thự gia đình của các vua và hoàng đế Pháp trong gần 9 thế kỷ. Thoạt nhìn thì đó chỉ là đẹp, mà đã là lâu đài hoàng gia thì phải đẹp rồi ! Nhưng điều đặc biệt, đó là có lẽ ít Lâu đài Hoàng gia Pháp nào lại mang tầm lịch sử như LĐ Fontainebleau này.
Được khởi công xây dựng vào năm 1137, được mở rộng thêm dưới triều vua Saint Louis (1214 - 1270) và đến thời vua François I (1494 - 1547) thì lâu đài được tân trang theo phong cách Phục Hưng. Từ vua François I tới hoàng đế Napoléon III, nơi đây được coi là “dinh thự gia đình hoàng gia”, chính vì thế nên Lâu đài đã lưu giữ dấu ấn của rất nhiều triều đại Vua và hoàng đế Pháp trong kiến trúc và di tích. Vậy nên Fontainebleau không phải là lâu đài của một vị vua, mà là của các vua, nơi đây là một "dinh thự gia đình", được truyền thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ thời Trung cổ cho đến thế kỷ 19. Mỗi vị vua và hoàng đế kế tục lại phụ thêm đôi nét riêng của mình vào lâu đài. Vậy nên khi đến đây, chúng ta có cảm giác được chìm mình vào các triều đại quân chủ của nước Pháp.
Những cách tân và dấu ấn nổi bật nhất, có lẽ cần phải kể đến thời François đệ I.
Từ thời Trung cổ, Fontainebleau đã được các vị vua coi là “lâu đài săn bắn”. Vào thời đó, săn bắn là một nghi lễ, biểu tượng của quyền lực và địa vị. Mặc dù không phải vị vua nào cũng đều thích săn bắn, nhưng săn bắn vẫn là một thể thức vừa hoang dã vừa mang tính nghi lễ để Quốc vương thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và trọng trách của mình.
Vào thế kỷ 14, giữa đại dịch Dịch hạch, Fontainebleau trở thành nơi ở thường xuyên và được các vị vua rất thích. Đến đây, họ vừa đắm mình vào các "cuộc vui xa hoa" và săn bắn, vừa tận hưởng không khí được coi là trong lành và tốt cho sức khỏe hơn so với Paris. Cung điện này cũng là nơi chào đời của một số Thái tử.
Do cuộc Chiến tranh Trăm năm (1337–1453), triều đình Pháp đã rời bỏ miền Bắc nước Pháp để đến vùng Val de Loire. Lâu đài Fontainebleau, nơi vốn đã tồn tại qua nhiều giai đoạn huy hoàng trong thời Trung cổ và là sự khẳng định quyền lực của hoàng gia, đã bị bỏ hoang cho thời gian tàn phá. Những gì còn lại của nó vào năm 1527 (khi François I bắt đầu khôi phục) thì chỉ còn là một tàn tích uy nghi, không thể ở và không có người ở, một lâu đài có “dòng dõi rất cổ xưa” nhưng lịch sử dường như đã thuộc về quá khứ…
Cái nôi của thời kỳ Phục hưng Pháp
Năm 1527 đánh dấu sự ra đời lần thứ hai thực sự của lâu đài nhờ công sức của vua François I. Vừa gần vừa xa Paris, Fontainebleau có mọi thứ để quyến rũ vua François I. Có một giai thoại kể rằng, François I là một vị vua bị sỉ nhục ! Bởi ông đã bị thua trận, bị bắt và bị giam cầm ở nhiều nơi, từ năm 1525 đến năm 1526, ông bị giam ở Madrid, thủ đô của Tây Ban Nha. Nghe nói đó là quãng thời gian đầy thử thách và nhọc nhằn đối với ông. Khi trở về Pháp, để quên đi nỗi đắng cay đó, ông đã để mắt đến khu tàn tích danh giá thời trung cổ này và bắt tay vào tái thiết tòa lâu đài.
Năm 1527 đó, François I đã ra lệnh cải tạo tòa lâu đài cũ. Các tòa nhà đang bị xuống cấp nặng nề, để xây dựng lại gần như toàn bộ. Chỉ có pháo đài là được bảo tồn nguyên vẹn (vả lại hiện giờ Pháo đài ấy vẫn tồn tại). Vẫn trên nền móng cũ, vẫn được giữ nguyên bản thiết kế ban đầu, những người thợ xây dựng bậc thầy đã dựng lên một tòa nhà mới rộng rãi hơn, có nhiều ô cửa lớn và mái nhà cao đón nhiều ánh sáng hơn (các lâu đài thời trung cổ đa phần có ô cửa sổ nhỏ, không gian bên trong thường rất tăm tối) và phía tây được mở rộng với một nơi ở được trang hoàng theo phong cách Phục Hưng đẹp nhất, phong phú nhất. Trên cổng lớn ra vào thời trung cổ trước đây, một lối vào hoành tráng đã được xây dựng, có cổng mạ vàng, với các khoảng không có mái vòm chồng lên nhau phản ánh rõ bố cục mang phong cách "bác học" hơn. Công trình xây dựng ngày càng trở nên tham vọng, phản ánh sự quan tâm ngày càng tăng của nhà vua đối với Fontainebleau: năm 1528, việc xây dựng phòng trưng bày François I bắt đầu, làm thay đổi diện mạo của tòa lâu đài mãi mãi.
Việc xây dựng sân sau lớn vào năm 1537 ở phía tây với mặt bằng rộng lớn, vuông vức (hiện nay là sân chính) chứng tỏ ảnh hưởng của kiến trúc Ý đã đưa Fontainebleau lên hàng ngũ những công trình đầy tham vọng nhất thời bấy giờ, khiến mong muốn của nhà vua muốn biến nơi ở của mình thành "Tân Roma" thành sự thật. Để khôi phục lại hình ảnh triều đại của mình, nhà vua đã giao phó cho vô số nghệ sĩ, hầu hết là người Ý, như Rosso Fiorentino và Primatice, những người đã sáng tạo và thiết kế những đồ vật trang trí lớn và một phong cách nghệ thuật vô tiền khoáng hậu ở Pháp. Họa sỹ xứ Florence, Rosso Fiorentino, đã dùng ngôn ngữ ngụ ngôn cũng như các văn từ lịch sử và thần thoại cổ đại, sau này đã làm cho Fontainebleau trở nên nổi tiếng. Sau đó, Primatice đã đến Fontainebleau vào năm 1532, nhà vua đã đặt ông thực hiện nhiều đồ trang trí. Họa sỹ Primatice cũng là người phụ trách trang trí các phòng tầng trệt, nơi François I trưng bày những bức tranh quý giá như La Joconde hoặc La Vierge au Rocher của Leonardo da Vinci. Lâu đài «nguồn», Fontainebleau sở hữu một thư viện hoàng gia, nơi tập hợp các “nguồn” văn học cổ đại, tiếng Hy Lạp và tiếng La tinh, nuôi dưỡng chủ nghĩa nhân văn hoàng gia dưới sự hướng dẫn của triết gia Guillaume Budé.
Chuyện kể rằng thời ấy nhà vua đã luôn đeo chìa khóa phòng trưng bày này ở cổ, đây là phòng trưng bày đầu tiên, và chỉ những vị khách quý mới được mời tới đó.
Sử sách kể lại rằng nếu như François I tiếp nhiều đại sứ của các triều đình châu Âu tại Fontainebleau, thì chính là tạo cho họ ấn tượng như đang đi dạo trên các hành lang và khu vườn của một "tân Roma". Nhất là chuyến thăm của Hoàng đế Charles Quint Tây Ban Nha vào lễ Giáng sinh năm 1539, đã khẳng định tầm quan trọng của một lâu đài đã trở thành "dinh thự của nhà vua". (Chính Hoàng đế Charles Quint đã bắt François I làm tù binh trong hai năm 1525 – 1526)
“Nếu chúng ta cứ quá để tâm lo lắng khi nào mọi việc sẽ hoàn thành thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ thực hiện được điều gì cả", Francois I đã nói như thế. Và trên thực tế là khi nhà vua qua đời vào năm 1547, thì lâu đài Fontainebleau vẫn đang trong quá trình xây dựng. Do đó, việc hoàn thành dự án được giao cho người thừa kế của ông, vua Henry II.
Trong suốt thời gian trị vì của mình, Henry II thường xuyên ở lại Fontainebleau như cha mình và tiếp tục dự án đầy tham vọng biến nơi này thành nơi cư trú chính của chế độ quân chủ. Vào cuối triều đại mình, nhà vua này đã chứng kiến việc xây dựng cầu thang hình móng ngựa đầu tiên, tạo lối đi mới lên các căn hộ ở tầng một. Chính tại "ngôi nhà hợp pháp" này, mà sáu hoàng tử của nhà vua đã chào đời, trong đó có vua François II (sinh 19/1/1544) và vua Henri III (sinh 19/9/1551).
Khi vua Henry II qua đời năm 1559, góa phụ của ông là thái hậu Catherine de Medici đã bộc lộ sở thích của mình đối với kiến trúc xây dựng. Bà giao lâu đài Fontainebleau cho họa sỹ Primatice, khi này đã 55 tuổi, lập kế hoạch cho việc tái thiết trùng tu tân trang các tòa nhà, đồ trang trí. Họa sỹ người Ý đã xây dựng, cải tạo, trùng tu… Và dưới bầu trời hỗn loạn của các cuộc chiến tranh tôn giáo liên miên, những bối cảnh cuối cùng của thời kỳ Phục hưng Pháp đã đạt đến độ chín muồi...
Trong 10 năm (1527-1537), dự án tái phát triển một khu nhà nghỉ săn bắn đã trở thành một dự án đầy tham vọng và hoành tráng, đưa Fontainebleau trở thành "dinh thự" yêu thích của nhà vua. Là một trung tâm nghệ thuật mà thế kỷ 19 gọi là “Trường phái Fontainebleau”, lâu đài đã trở thành nơi ở đặc quyền của các vị vua Valois, từ François I đến cháu trai ông là Charles IX. Đây là cung điện đúng như François I mong muốn, với thiết kế hoành tráng được những người kế nhiệm ông tô điểm thêm, thành một tòa lâu đài như chúng ta được thăm ngày nay...
Một dấu ấn đậm được ghi lại tại tòa lâu đài này có lẽ là dưới thời Napoléon I. Chính tại đây trong một căn phong, vị Hoàng đế đã ký giấy thoái vị trước người Anh, và trên bậc cầu thang hình móng ngựa tuyệt đẹp, cũng vẫn vị hoàng đế ấy đã nói những lời từ biệt đầy xúc động với quân đội của mình để chuẩn bị chuyến đi đầy biệt xứ lần 1!
Cùng với những thăng trầm tao loạn, với binh biến của hai cuộc Đại chiến Thế giới thì hiện nay, Lâu đài Fontainebleau vẫn luôn là nơi thu hút khách du lịch thập phương, nhất là các học sinh từ lớp nhỏ nhất đến các trường đại học. Nơi đây cũng thường xuyên tổ chức các festival nghệ thuật văn hóa Pháp và Quốc tế.
Paris 06 2025
Hiệu Constant
Thứ Năm, 19 tháng 6, 2025
Della Crewe người phụ nữ đầu tiên đi du lịch đường dài bằng moto
Della Crewe sinh năm 1884 tại hạt Racine, bang Wisconsin. Bà nổi danh là một du khách giàu kinh nghiệm với chuyến đi xuyên Hoa Kỳ bằng xe mô tô của chính mình.
Vào năm 1914, thời điểm mà vai trò của người phụ nữ là phải ở nhà, thì Della Crewe đã đóng gói hành lý, khoác áo da và lên đường khám phá nước Mỹ - không phải bằng ô tô hay tàu hỏa mà bằng xe máy, trên chiếc Harley-Davidson ba bánh hai xi-lanh hai tốc độ, và bà đặt tên cho xe là The Gray Fellow cùng với chú chó Boston Terrier mà bà gọi là Trouble, được đặt ngồi thoải mái trong thùng xe bên cạnh.
Della Crewe là thợ sơn sửa móng tay, không giàu có, không được tài trợ. Bà chỉ đơn giản tin rằng phụ nữ cũng có thể đi bất cứ nơi nào họ muốn, theo cách mà họ muốn. Và bà đã thực hiện được.
Khởi hành từ Waco, Texas, vào ngày 24 tháng 6 năm 1914, Della đã đi hàng ngàn km qua các thành phố các bang và những đoạn đường hiểm trở, chịu đựng mọi thời tiết xấu, hỏng xe dọc đường và chịu không ít những cái nhìn ngờ vực. Nhưng bà đã không bao giờ bỏ cuộc. Chuyến du hành của bà là một lời tuyên bố: phụ nữ không cần phải chờ đợi sự cho phép để khám phá thế giới. Bà đã đi từ Waco đến Dodge City, Kansas để tham gia các cuộc đua xe máy. Sau đó, bà đến St. Louis, Missouri để tham dự hội nghị thường niên của Liên đoàn Người đi xe máy Hoa Kỳ.Tại Chicago, bà đã gặp C. H. Lang, đại lý đầu tiên của hãng xe Harley-Davidson. Mùa thu năm ấy, bà đến Milwaukee, nơi bà được các nhân viên văn phòng Harley-Davidson chào đón nồng nhiệt. Chuyện kể rằng bà đã đứng chụp ảnh trước các cửa hàng đại lý của hãng xe Harley, chú chó Trouble thường được đeo kính và khoác một chiếc áo len, cả hai đều rất phù hợp cho lộ trình đường trường. Della Crewe và chú chó của bà đã đến Thành phố New York vào tháng 12 năm 1914 sau khi đi được 5.378 dặm (tầm 8.600 km) qua mười tiểu bang trong sáu tháng. Bà đã kể chi tiết chuyến đi của mình cho Đại lý Harley-Davidson và viết tên các địa điểm mà bà đã đi qua trên xe gắn máy của mình. Các nữ ghi tốc ký đã rất hân hoan đón chào bà và Trouble.
Câu chuyện của Della Crewe ít được biết đến, nhưng tinh thần của bà vẫn sống mãi trong mỗi người phụ nữ không chịu bị giới hạn bởi những quy ước quy tắc. Vào thời điểm mà phụ nữ thậm chí còn không có quyền đi bỏ phiếu bầu cử, bà đã đi xuyên quốc gia theo những quy tắc của chính mình - với lòng dũng cảm, sự độc lập và một người bạn đồng hành bốn chân trung thành, chú chó Trouble.
Della Crewe đã có ý định đi du lịch khắp Châu Âu nhưng kế hoạch của bà đã bị thay đổi vì Thế chiến thứ nhất. Thay vào đó, bà đã đi đến Jacksonville, Florida, dự định chạy xe qua miền Nam Hoa Kỳ, tiếp tục đến Cuba và Nam Mỹ. Bà đã qua Cuba và sau đó cho chuyển xe máy của mình đến Panama, ghé thăm Kênh đào Panama. Sau đó, bà đến thăm Jamaica và Puerto Rico, trước khi quay trở lại Florida, từ đây bà đi xe đến Thành phố New York lần thứ hai. Bà tiếp tục trao đổi thư từ với tờ Waco Daily Times-Herald, nơi đã xuất bản những lá thư dài của bà kể lại những chuyến đi của mình.
Năm 1917, bà lái ô tô từ Thành phố New York đến Los Angeles. Bà đã quyên góp tiền cho chuyến đi này bằng cách vẽ và bán những bức tranh phong cảnh trong suốt chuyến đi.
Della Crewe qua đời năm 1926.
Thứ Tư, 4 tháng 6, 2025
Ba Lan có tân Tổng Thống
Ba Lan có tân Tổng Thống
Ba Lan: Nhà sử học theo trường phái dân tộc chủ nghĩa Karol Nawrocki đắc cử tổng thống
Ứng cử viên 42 tuổi, được đảng dân tộc-bảo thủ Luật pháp và Công lý ủng hộ, đã chiến thắng sít sao trước Thị trưởng thành phố Thủ đô Warsaw thuộc phái Tự do, ông Rafal Trzaskowski, trong cuộc bầu cử với 50,89 phần trăm số phiếu bầu.
Đúng như dự đoán, kết quả bầu cử rất sít sao. Sử học gia theo Chủ nghĩa dân tộc Karol Nawrocki, 42 tuổi, đã đắc cử Tổng thống Ba Lan vào Chủ Nhật, ngày 1 tháng 6, ông đã thắng đối thủ Rafal Trzaskowski, 53 tuổi, thị trưởng thành phố thủ đô Warsaw, người được cho là thân Châu Âu và là đồng minh của chính phủ trung dung, ông Rafal Trzaskowski vốn đã phải chịu thất bại lớn trong vòng bầu cử lần hai.
Ông Nawrocki, được đảng Luật pháp và Công lý (PiS) của Tổng thống bảo thủ sắp mãn nhiệm Andrzej Duda ủng hộ, đã giành được 50,89% số phiếu bầu, so với 49,11% của đối thủ. "Đêm nay chúng ta sẽ chiến thắng, chúng ta sẽ chiến thắng và sẽ cứu Ba Lan", ông đã tuyên bố với những người ủng hộ vào tối ngày bầu cử. "Chúng ta sẽ không cho phép Thủ tướng Donald Tusk độc quyền quyền lực hoàn toàn", ông nói.
Rafal Trzaskowski cũng nói với đám đông reo hò rằng ông đã "chiến thắng... trong gang tấc" khi cuộc thăm dò ý kiến cử tri cho thấy ông giành được 50,3% số phiếu bầu, so với 49,7% của đối thủ. Nhưng khi kết thúc bài phát biểu, nhóm của ông thừa nhận rằng chiến thắng không hề chắc chắn. Cuối cùng ông đã thừa nhận thất bại vào hôm thứ Hai. "Xin chúc mừng Karol Nawrocki về chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống", ông viết trên trang X. "Chiến thắng này là một cam kết, đặc biệt là trong thời điểm khó khăn như thế này. Đặc biệt là với kết quả sát nút như vậy. "Đừng quên điều đó nhé", ông nói thêm.
Kết quả cuối cùng phụ thuộc vào khả năng của ông Trzaskowski khi đã huy động đủ số lượng người ủng hộ và sự tự nguyện của những cử tri cực hữu đã chuyển phiếu bầu sang ông. Các ứng cử viên cực hữu đã giành được hơn 21% số phiếu bầu trong vòng đầu tiên, trong khi ông Trzaskowski giành được 31% số phiếu bầu, so với 30% dành cho ông Nawrocki.
"Người dân Ba Lan trên hết"
Với khẩu hiệu "Người Ba Lan trước tiên, người Ba Lan trên hết", vị tổng thống đắc cử đã nhắm tới hàng triệu người tị nạn Ukraine đang sống tại nước này, một thành viên của NATO và Liên minh châu Âu (EU), nơi mà ông cũng nhắm vào để chỉ trích. Nếu như ông đã cam kết duy trì sự ủng hộ của Ba Lan dành cho Ukraine, quốc gia đã có giao tranh với quân đội Nga kể từ tháng 2 năm 2022, thì Karol Nawrocki phản đối việc quốc gia láng giềng này gia nhập NATO và lên án việc viện trợ cho những người tị nạn Ukraine tại Ba Lan.
Trong một video, ông cho biết các chế độ phúc lợi xã hội "trước tiên là dành cho người Ba Lan" và rằng "trong các dãy xếp hàng chờ tại các phòng khám và bệnh viện", người Ba Lan phải "được ưu tiên". Ông cũng chỉ trích Kiev vì không "biết ơn những gì người Ba Lan đã làm cho họ" và cáo buộc Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky là "vô lễ" với đất nước Ba Lan.
Chiến thắng này của ông Nawrocki củng cố đảng dân túy Luật pháp và Công lý, đảng đã lãnh đạo Ba Lan từ năm 2015 đến năm 2023, và có thể dẫn đến các cuộc bầu cử quốc hội mới. Nó có nguy cơ cản trở chương trình nghị sự tiến bộ của chính phủ, đặc biệt là về phá thai và những quyền lợi LGBT+.
Sự ủng hộ của Nhà Trắng
Là người ngưỡng mộ Donald Trump, ông Nawrocki đã gặp tổng thống Mỹ tại Nhà Trắng ngay ít ngày trước khi diễn ra vòng bầu cử đầu tiên. Cuộc gặp gỡ này đã làm dấy lên những cáo buộc ở Ba Lan về sự can thiệp của Hoa Kỳ vào cuộc bầu cử. Nữ Bộ trưởng An ninh Nội địa Hoa Kỳ Kristi Noem đã ủng hộ ông Nawrocki nhân một cuộc mít tinh bảo thủ ở Ba Lan vào cuối tháng 5. "Ông ấy phải là tổng thống kế nhiệm", bà ấy nói.
Trong chiến dịch tranh cử, ông Nawrocki ủng hộ việc áp dụng kiểm soát biên giới với Đức nhằm ngăn chặn người di cư nhập cảnh, mà ông cho là đang bị quốc gia này từ chối, và yêu cầu Berlin trả tiền bồi thường cho Ba Lan trong Thế chiến thứ hai.
Với vai trò của mình, tổng thống Ba Lan có ảnh hưởng nhất định đến chính sách đối ngoại và quốc phòng của đất nước có 38 triệu dân này. Trên hết, Tổng thống có quyền phủ quyết ở cấp độ lập pháp, quyền này chỉ có thể bị bác bỏ nếu đảng đa số chiếm ba phần năm (3/5) trong Quốc hội – điều mà chính phủ hiện tại không có.
Những kế hoạch cải cách của Donald Tusk đã bị chặn lại do bế tắc với tổng thống đương nhiệm theo chủ nghĩa dân tộc, Andrzej Duda.
Volodymyr Zelensky hy vọng "hợp tác hiệu quả"
Chủ tịch Ủy ban Châu Âu Ursula von der Leyen phát biểu trên trang X rằng bà "có niềm tin" trong hành tình tiếp tục một sự "hợp tác ăn ý" với Warsaw.
Thủ tướng Hungary Viktor Orban, người chia sẻ cùng tầm nhìn về Chủ quyền với ông Nawrocki trước Brussels, đã mô tả chiến thắng của ông Nawrocki là "tuyệt vời".
Về phần mình, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky cho biết ông hy vọng sẽ có "một sự hợp tác hiệu quả với Ba Lan và với cá nhân Tổng thống Nawrocki", trong khi vị tổng thống tương lai của Ba Lan đặc biệt muốn cắt giảm những viện trợ cho người tị nạn Ukraine.
Về phần Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier, người này đã kêu gọi người đồng cấp mới của Ba Lan hợp tác "trên cơ sở pháp quyền", trong khi ứng cử viên vừa đắc cử theo chủ nghĩa dân tộc đe dọa sẽ cứng rắn hơn với Berlin và Brussels. "Chúng ta phải hợp tác chặt chẽ trên cơ sở dân chủ và pháp quyền để đảm bảo tương lai an ninh, tự do và thịnh vượng cho châu Âu", ông Steinmeier viết trong một bản tuyên bố chúc mừng chiến thắng của Karol Nawrocki.
Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã chúc mừng chiến thắng của ông Nawrocki. "Chúng ta hãy cùng nhau củng cố mối quan hệ gắn kết giữa Ba Lan và Pháp", ông viết. Chúng ta hãy tiếp tục xây dựng một châu Âu mạnh mẽ, độc lập, có sức cạnh tranh và tôn trọng pháp quyền.” Trước đó, Bộ trưởng Ngoại giao Jean-Noël Barrot cũng kêu gọi tổng thống đắc cử "làm việc" với Pháp và Đức "hướng tới chủ quyền và tự chủ về chiến lược của châu Âu". Nữ Thủ tướng Ý Giorgia Meloni cũng chúc mừng ứng cử viên theo chủ nghĩa dân tộc về chiến thắng của ông, đồng thời nêu ra "các giá trị chung" giữa hai nước.
Theo Báo Le Monde & AFP
Thứ Ba, 22 tháng 4, 2025
Giáo hoàng François băng hà
Giáo hoàng François băng hà
Giáo hoàng François qua đời vào sáng thứ Hai, ngày 21 tháng 4. Ngài thọ 88 tuổi. Thực ra, biết tin ngay từ sáng qua, khi ngài vừa tạ thế. Đây cũng là một tin khá choáng đối với đông đảo con chiên. Nhà mình lại kề sát một nhà thờ.
Xin được chia buồn cùng Đại gia đình Công giáo, trong đó có gia đình chồng mình.
Được bầu đảm nhiệm vị trí cao nhất của Tòa thánh Vatican vào tháng 3 năm 2013, Đức Jorge Mario Bergoglio người Argentina và là vị Giáo hoàng gốc Nam Mỹ đầu tiên. Một số người coi ngài là nhà cải cách táo bạo, nhưng một số khác lại cho rằng ngài khá lỏng lẻo trong việc bảo vệ truyền thống. Vị Giáo hoàng này đã phải đối mặt với những vụ bê bối về bạo lực tình dục trong giới giáo sĩ.
Rất nhiều ý kiến trái chiều về thời kỳ lãnh đạo của Giáo hoàng François : Một bên cho rằng Ngài là một nhà cải cách dũng cảm, nhưng một số người khác lại cho rằng ngài là kẻ kích động nguy hiểm.
Trong thời gian trị vì, vị Giáo hoàng gốc Mỹ latinh đầu tiên này đã gây chấn động giới Công giáo cũng như đã thu hút được rất nhiều giới ngoại Đạo. Là người không ngừng bảo vệ tầng lớp dân nghèo, người di cư, bảo vệ hành tinh xanh đang ngày một bị tàn phá nghiêm trọng, ngài cũng là người ủng hộ sự liên-Tôn giáo, luôn công kích nền văn hóa tảy chay/pourfendeur de la cancel culture và «ý thức hệ giới tính». Ngài trên hết tự coi mình là «một đứa con của Giáo hội». Đương thời vị Giáo hoàng này luôn coi thường mọi phạm trù liên quan đến lười biếng.
Những người theo chủ nghĩa tiến bộ đã luôn muốn coi ngài là một người cùng phe họ sau thời kỳ bảo thủ kéo dài của Jean-Paul II và Benoit XVI. Họ đã không hề mở miệng khi ông so sánh việc phá thai với việc thuê "sát thủ". Những người Công giáo bảo thủ, những quán quân bảo vệ "nguồn gốc Kitô giáo" hoặc luôn tôn thờ những nghi lễ cổ xưa, đã phát nghẹn khi ông ca ngợi một xã hội "đa văn hóa" và coi nhẹ việc giảng thánh lễ bằng tiếng La-tinh. Với ngài Bergoglio gốc Argentina này, các đường lối chính trị thông thường không phải lúc nào cũng trùng lặp với các đường lối trong ĐứcTin.
Vậy là ngần ấy năm tại Pháp, mình đã chứng kiến ba vị Giáo hoàng băng hà.
1. Ngài Jean-Paul II, đảm nhiệm chức vị cao nhất của Nhà thờ từ 16/10/1978 đến khi tạ thế vào ngày 2/04/2005.
2. Benoît XVI: từ ngày 19/04/2005, cho đến khi thoái vị ngày 28/02/2013 và qua đời vào 31/12/2022 .
3. François : 13/03 2013 đến lúc băng hà ngày 21/04/2025
Mình cũng đã từng đến Roma, đến thăm tòa thánh Vatican, xuống hầm ngầm viếng mộ các Giáo hoàng đã được mai táng ở đó (chừng 40 mộ). Mình sẽ không bao giờ quên cảm giác ấy. Phải nói là rất trang nghiêm, rất lạnh dẫu ngoài quảng trường ngoài kia mà hè như đổ lửa.
Trong suốt thời gian kể từ khi Pháp, vào các ngày lễ quan trọng của Công giáo, với sự xuất hiện của Giáo hoàng trước công chúng và buổi lễ được truyền trực tiếp từ Tòa Thánh, mình « ngoan ngoãn » ngồi xem cho đến hết !
Mình là Phật tử nhưng tôn trọng mọi Tôn giáo với tâm thức cho rằng bất kỳ Tôn giáo nào cũng đều hướng con người đến với đời sống Chân Thiện Nhẫn để thoát khỏi cuộc đời trầm luân trong bể khổ ! Thực hành Tôn giáo cũng cần sự sáng suốt, nếu không thì sẽ lại rơi vào cảnh mụ mị không lối thoát. Con người sống cần có Đức tin nhưng không phải mê tín ! Không có đức tin, con người sẽ như con diều đứt dây, bay vô định và không thấy nẻo về !
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)





